Chuyển từ quốc tịch nước ngoài sang quốc tịch Việt Nam, người lao động có phải cấp mã số thuế mới không?
Người lao động mang hai quốc tịch Việt Nam và Canada đã được cấp mã số thuế TNCN khi làm việc với tư cách người nước ngoài. Khi chuyển sang quốc tịch Việt Nam, người lao động có được cập nhật thông tin trên cùng mã số thuế đã cấp và việc xác định đối tượng quyết toán thuế sẽ thực hiện như thế nào?
Hỏi:
Hiện nay, tại công ty chúng tôi có một người lao động là cá nhân mang hai quốc tịch (Việt Nam và Canada). Trước đây, người lao động này làm việc và ký hợp đồng lao động với tư cách là người nước ngoài (sử dụng quốc tịch Canada), đã được cấp mã số thuế thu nhập cá nhân 10 số, gắn với thông tin hộ chiếu nước ngoài. Nay, người lao động có nhu cầu chuyển sang sử dụng quốc tịch Việt Nam trong quá trình làm việc tại công ty.
Liên quan đến vấn đề này, công ty kính đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn các nội dung sau: Trường hợp người lao động chuyển sang sử dụng quốc tịch Việt Nam thì có được phép điều chỉnh, cập nhật thông tin đăng ký thuế (từ thông tin hộ chiếu nước ngoài sang thông tin hộ chiếu/CMND/CCCD Việt Nam) trên cùng mã số thuế 10 số đã được cấp trước đây hay không?
Trường hợp được cập nhật thông tin sang quốc tịch Việt Nam: Khi thực hiện quyết toán thuế TNCN, nếu xác định người lao động là cá nhân cư trú mang quốc tịch Việt Nam thì có tiếp tục sử dụng mã số thuế 10 số nêu trên hay không? Trường hợp đã cập nhật thông tin đăng ký thuế sang giấy tờ tùy thân của Việt Nam: Khi quyết toán thuế TNCN, công ty có được lựa chọn đối tượng là cá nhân người nước ngoài (theo tình trạng cư trú thực tế) hay bắt buộc phải xác định là cá nhân Việt Nam?
Trả lời:
- Căn cứ khoản 1 Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.”
- Căn cứ Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019:
+ Tại điểm b khoản 3 Điều 30 quy định về cấp mã số thuế:
“b) Cá nhân được cấp 01 mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt cuộc đời của cá nhân đó. …;”
+ Tại khoản 3 Điều 36 quy định về thay đổi thông tin đăng ký thuế:
“3. Trường hợp cá nhân có ủy quyền cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế cho cá nhân và người phụ thuộc thì phải thông báo cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi; tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thuế chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ủy quyền của cá nhân.”
- Căn cứ Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2024 của Bộ Tài chính:
+ Tại điểm k khoản 2 Điều 4 quy định người nộp thuế thuộc đối tượng thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế:
“k) Cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân (trừ cá nhân kinh doanh).”
+ Tại khoản 4 Điều 25 quy định địa điểm nộp và hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế:
“4. Đối với cá nhân quy định tại điểm k, l, n khoản 2 Điều 4 Thông tư này khi có thay đổi thông tin đăng ký thuế của bản thân và người phụ thuộc (bao gồm cả trường hợp thay đổi cơ quan thuế quản lý trực tiếp) nộp hồ sơ cho cơ quan chi trả thu nhập hoặc Chi cục Thuế, Chi cục Thuế khu vực nơi cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú (trường hợp cá nhân không làm việc tại cơ quan chi trả thu nhập hoặc không ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập) như sau:
…”
+ Tại khoản 2 Điều 38 quy định hiệu lực thi hành:
“2. Mã số thuế do cơ quan thuế cấp cho cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh được thực hiện đến hết ngày 30/6/2025. Kể từ ngày 01/7/2025, người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc sử dụng mã số thuế theo quy định tại Điều 35 Luật Quản lý thuế thực hiện sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế.”
Căn cứ các quy định trên, trường hợp cá nhân người nước ngoài đã được cấp quốc tịch Việt Nam, thì kể từ ngày có quốc tịch Việt Nam cá nhân này trở thành công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, nếu cá nhân đã được cấp mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN theo quy định trước khi trở thành công dân Việt Nam, thì tiếp tục sử dụng MST này để thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN theo quy định của Luật quản lý thuế.
Cá nhân thực hiện thay đổi thông tin đăng ký thuế (quốc tịch Việt Nam, số CCCD …) thông qua cơ quan chi trả thu nhập hoặc cơ quan thuế nơi cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú (trong trường hợp cá nhân không ủy quyền cho cơ quan chi trả thu nhập). Hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Thông tư số 86/2024/TT-BTC ngày 23/12/2024 của Bộ Tài chính.
Trường hợp cá nhân ủy quyền cho tổ chức chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế thì phải thông báo cho tổ chức chi trả thu nhập chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi; tổ chức chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thuế chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ủy quyền của cá nhân.
Kể từ ngày 01/7/2025, người nộp thuế sử dụng số định danh cá nhân trên Căn cước công dân được cấp để thay cho mã số thuế của cá nhân khi thực hiện khai, nộp thuế TNCN theo quy định.











