Chuyện về nữ thanh niên xung phong miền Đất Cảng

Tháng Tư lại về, mang theo không khí tự hào của Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Giữa nhịp sống thời bình, ký ức của những người như cụ Phạm Thị Kim, cựu thanh niên xung phong thuộc E4C2, Bộ Tư lệnh 350, hiện lên như những thước phim tư liệu sống động về một thời hoa lửa.

“Phải góp sức trẻ cho ngày thống nhất”

Sinh ra và lớn lên tại xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo - một vùng quê nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng của Hải Phòng, tuổi trẻ của bà Phạm Thị Kim gắn liền với giai đoạn đất nước đang sục sôi đánh Mỹ. Năm 1965, bà Kim vừa học xong lớp 7, một trình độ học vấn tương đối cao ở các vùng nông thôn thời bấy giờ. Bà đứng trước cơ hội tiếp tục theo học sư phạm để trở thành giáo viên theo kỳ vọng của gia đình.

Thế nhưng, hiện thực khốc liệt của chiến tranh đã khiến cô gái trẻ đưa ra một quyết định đi ngược lại hoàn toàn kỳ vọng đó: Viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong.

“Lúc bấy giờ, tinh thần cả nước đang hướng về chiến trường. Dù biết thân là con gái ra chiến tuyến sẽ vất vả, nhưng tôi vẫn quyết tâm cùng chị em lên đường. Đó không chỉ là trách nhiệm, mà là khao khát được đóng góp sức trẻ cho ngày thống nhất”, bà Kim chia sẻ.

Tháng 3/1965 trở thành bước ngoặt lớn trong cuộc đời bà Kim. Từ một nữ sinh trường làng, bà trở thành một nữ thanh niên xung phong, bắt đầu hành trình mang sức trẻ xây dựng những tuyến đường huyết mạch cho Tổ quốc.

Vượt sương gió, mở đường hoa

Nhiệm vụ đầu tiên của đơn vị bà Phạm Thị Kim tại dãy Hoàng Liên Sơn là mở rộng các tuyến đường chiến lược như đèo Đá Trắng. Bà kể lại: “Có những tảng đá cao bằng nóc nhà, nữ giới cầm chòng giữ cho nam giới đánh búa, đủ độ sâu thì gài kíp mìn để phá”.

Bên cạnh áp lực từ khối lượng công việc khổng lồ và hiểm nguy bom đạn, những người thanh niên xung phong còn phải đối mặt với thực tại khắc nghiệt từ điều kiện sinh hoạt giữa rừng sâu. Bà Kim vẫn ám ảnh về những con vắt rừng, len lỏi vào cả những đôi giày bata bám chặt lấy chân người. Chỗ nào hở ra là chúng bám vào hút máu.

Cùng với vắt rừng là những cơn sốt rét hành hạ. Ký ức về những viên thuốc chống sốt rét to bằng hộp cao Sao Vàng (thuốc B1) được y tá phát mỗi sáng vẫn in đậm trong tâm trí bà. Trong điều kiện thiếu thốn, việc ăn ở cũng được tổ chức theo cách giản dị và phù hợp với hoàn cảnh. Khẩu phần ăn có đến 40% là độn ngô, chỉ có 30% là gạo. Hàng ngày, mỗi người được phân phối 7 lạng gạo hoặc những chiếc bánh mì trắng đặc ruột. Những nữ Thanh niên xung phong phải dùng chiếu cuộn lại để tự đi cõng gạo hàng tháng trời từ kho về đơn vị. Giường ngủ của họ do đồng bào dân tộc hướng dẫn dựng lên, chặt tre dập nứa ghép lại thành sạp, nam một bên, nữ một bên giữa rừng già.

Gian khổ là thế, nhưng tinh thần của những người thanh niên mở đường không hề chùn bước. Trong một lá thư hiếm hoi gửi về cho người cha ở quê nhà, cô gái Phạm Thị Kim đã dùng chính cái tài “học văn rất giỏi” của mình để viết nên những dòng chân thực: “Dốc cao đèo dốc, chân mỏi gối chồn, tinh thần mệt nhọc. Trước sức khỏe giảm sút ấy, nhưng thấy cả nước có chiến tranh, lòng căm thù tràn ngập thì con lại hăng say công tác”. Một câu thơ dung dị nhưng đã gói trọn cả lý tưởng sống của một thế hệ.

Gác súng, cầm cày và viết tiếp bài ca

Sau những năm tháng trui rèn ở vùng núi cao, bà Kim được chuyển công tác về E4C2, thuộc Bộ Tư lệnh 350, Quân khu 3. Đơn vị bám trụ tại các địa bàn trọng điểm của thành phố cảng Hải Phòng như núi Trà Phương (Kiến Thụy), núi Đèo, Cao Nhân (Thủy Nguyên).

Tại đây, lực lượng thanh niên xung phong đảm nhận một nhiệm vụ mang tính chiến lược: Đào núi, khoét đá để xây dựng hệ thống hầm ngầm quân sự quy mô lớn. Trong môi trường làm việc đặc thù, tính bảo mật được đặt lên hàng đầu, họ lặng lẽ thi công theo mệnh lệnh, chỉ ngầm hiểu với nhau đây là nơi giấu pháo, nơi trú ẩn của bộ đội hay trạm cứu thương khi chiến sự nổ ra. Bằng bàn tay trần và dụng cụ thô sơ, lực lượng thanh niên xung phong đã tạo nên các pháo đài vững chãi trong lòng đất mẹ, góp phần xây dựng lá chắn thép bảo vệ thành phố trong những năm tháng kháng chiến ác liệt.

Đến cuối năm 1968, đầu năm 1969, bà Kim xuất ngũ và trở về địa phương. Ngay cả khi đã tháo ba lô, rời quân ngũ, tinh thần cống hiến vẫn không dừng lại. Bà tham gia công tác tại xã, làm kế toán cho hợp tác xã nông nghiệp. Ở tuổi 25-26, bà lập gia đình với một người đồng chí cũng từng là thanh niên xung phong, sau này chuyển sang phục vụ trong quân đội. Hai vợ chồng cùng nhau xây dựng cuộc sống mới giữa những năm tháng đất nước còn bộn bề gian khó.

Ngày 30/4/1975, khi loa phát thanh vang lên tin chiến thắng, thông báo miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, niềm vui của bà hòa cùng niềm hân hoan của triệu người dân Việt Nam: “Lúc ấy tôi ở nhà rồi, nghe tin cả nước được hòa bình, thống nhất thì phấn khởi và mừng rỡ lắm”, bà Kim bồi hồi nhớ lại.

Lời nhắn gửi mai sau

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày hòa bình lập lại, nữ thanh niên xung phong “bạt núi mở đường” năm xưa nay đã bước sang tuổi 80. Khi được hỏi về ý nghĩa của hai chữ Tổ quốc trong tâm thức của thế hệ mình, với bà, khái niệm thiêng liêng ấy khắc sâu trong cả tiềm thức lẫn con tim.

Tổ quốc chính là những ngày “hôm qua”, là mồ hôi, thanh xuân và cả máu xương mà bao thế hệ đi trước đã đánh đổi, nhưng đồng thời cũng là nền móng để ươm mầm cho một “hôm nay” trọn vẹn trong hòa bình và không ngừng vươn lên phát triển.

Theo bà Kim, nếu thời gian có quay trở lại, dù biết trước sẽ phải ăn ngô độn gạo, đối mặt với vắt rừng hay sốt rét, bà vẫn sẽ chọn làm thanh niên xung phong thay vì bục giảng hay bất kỳ một nghề nghiệp nào khác. Bởi lẽ, trong tâm thức của cô gái tuổi đôi mươi ngày ấy, lòng yêu nước đã vượt lên trên tất cả: “Nếu không đi, có lẽ tôi đã là một cô giáo làng, yên phận với chuyện cày cấy, lấy chồng; nhưng ngày đó, chúng tôi quyết tâm bỏ lại sau lưng tất cả để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc”.

Với thế hệ hôm nay, bà Phạm Thị Kim gửi gắm những lời nhắn nhủ chân thành và mộc mạc: “Thời đại bây giờ đất nước đã hòa bình, không còn đổ máu nữa. Các cháu là thế hệ sau, hãy yêu Tổ quốc, yêu lấy ngành nghề các cháu đã học và phục vụ đất nước cho đến nơi đến chốn. Mình là người Việt Nam, máu đỏ da vàng. Dù có sống ở đâu, đi đến chỗ nào cũng phải hướng về Tổ quốc, hướng về nguồn cội của mình”.

Hình ảnh “cô gái mở đường” với những bước chân không mỏi đã đại diện cho một thế hệ đầy lý tưởng rực cháy và khát vọng hiến dâng. Sứ mệnh của tuổi trẻ hôm nay là viết tiếp hành trình ấy bằng sự dấn thân trong thời bình, sống trách nhiệm và cống hiến hết mình cho con đường đã chọn. Điều này không chỉ để khẳng định giá trị bản thân, mà còn là lời hồi đáp chân thành nhất gửi đến những “dấu chân mở lối” của một thời hoa lửa.

Bà Phạm Thị Kim (sinh năm 1946 tại Hải Phòng) là cựu Thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Bà bắt đầu lên đường gia nhập lực lượng thanh niên xung phong từ tháng 3/1965 đến tháng 10/1968. Sau khi trở về quê nhà, bà đảm nhiệm vai trò kế toán cho hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương.

Bà nên duyên cùng một người đồng chí cũng là cựu thanh niên xung phong, người sau này tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội. Hiện nay, ở tuổi 80 bà vẫn duy trì thói quen lao động nông nghiệp, tìm thấy niềm vui trong sự tĩnh tại và an yên bên gia đình.

Tố Uyên

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/chuyen-ve-nu-thanh-nien-xung-phong-mien-dat-cang-387873.html