Chuyện về Tổng Giám đốc đầu tiên của Vietsovpetro

Ngày 26-6-1986, dòng dầu công nghiệp đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ phun lên từ thềm lục địa phía Nam, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của ngành dầu khí Việt Nam. 40 năm sau, sự kiện ấy vẫn được nhắc đến như là mốc khởi nguồn đưa dầu khí trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Nhưng trước khi dòng dầu đầu tiên được khai thác và Vietsovpetro trở thành biểu tượng hợp tác quốc tế thành công, đã có những con người đặt nền móng cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Ông Jalal Mammadov là một trong số đó. Trên cương vị Tổng Giám đốc đầu tiên của Vietsovpetro (1981-1984), ông đã góp phần xây dựng bộ máy để dòng dầu đầu tiên có thể phun lên từ biển Việt Nam.

Một sứ mệnh đặc biệt

Cuối năm 2024, trước chuyến công tác tới Hội nghị Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (COP29) tại Baku, tôi bất ngờ khi được nghe Đại sứ Cộng hòa Azerbaijan tại Việt Nam Shovgi Mehdizada kể về một phần đặc biệt trong mối quan hệ Việt Nam - Azerbaijan.

Đó là ký ức về chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Baku năm 1959; là câu chuyện về hàng nghìn kỹ sư Việt Nam từng học tập tại Azerbaijan thời kỳ Liên Xô; và về ông Jalal Mammadov - người Azerbaijan đầu tiên giữ cương vị Tổng Giám đốc Vietsovpetro.

Ông Jalal Mammadov tiếp đoàn công tác của Liên Xô tại Vũng Tàu (ảnh do Đại sứ quán Azerbaijan tại Hà Nội cung cấp)

Ông Jalal Mammadov tiếp đoàn công tác của Liên Xô tại Vũng Tàu (ảnh do Đại sứ quán Azerbaijan tại Hà Nội cung cấp)

“Tôi luôn cho rằng ông Jalal Mammadov là một trong những người Azerbaijan góp phần đặc biệt vào tình hữu nghị giữa hai nước”, Đại sứ Shovgi Mehdizada nhận xét.

Sự ghi nhận đó không chỉ xuất phát từ cương vị lãnh đạo ông Jalal Mammadov từng đảm nhiệm, mà còn đến từ những đóng góp của ông trong giai đoạn đặc biệt, khi Việt Nam triển khai xây dựng ngành dầu khí theo mô hình liên doanh quốc tế.

Năm 1981, Vietsovpetro được thành lập. Điều Việt Nam cần khi đó không chỉ là công nghệ hay thiết bị, mà quan trọng hơn là một hệ thống quản trị đủ khả năng vận hành một ngành công nghiệp quy mô lớn, có tính kỹ thuật cao và đòi hỏi sự phối hợp của hàng nghìn con người đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó chính là nhiệm vụ mà ông Jalal Mammadov được giao.

Để tìm hiểu sâu hơn về câu chuyện của “người mở đường”, tôi tìm gặp ông Ngô Thường San, nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro và nguyên Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, tiền thân của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) ngày nay. Theo ông San, ông Jalal Mammadov là người có đóng góp đặc biệt quan trọng vào định hình công tác quản trị và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dầu khí Việt Nam.

Ông San cho biết truyền thống ngành dầu khí Việt Nam luôn ghi nhớ chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thành phố Baku ngày 23-7-1959. Tại trung tâm công nghiệp dầu khí lớn nhất Liên Xô khi đó, Người đã đề nghị Liên Xô và Azerbaijan giúp Việt Nam xây dựng ngành dầu khí. Sự kiện này được xem là dấu mốc mở đầu cho hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên Xô, trong đó Azerbaijan giữ vai trò then chốt.

Ông Jalal Mammadov (ngoài cùng bên trái) và ông Ngô Thường San (thứ tư từ phải sang) trong Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Vietsovpetro năm 1996 (ảnh do ông Ngô Thường San cung cấp)

Ông Jalal Mammadov (ngoài cùng bên trái) và ông Ngô Thường San (thứ tư từ phải sang) trong Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Vietsovpetro năm 1996 (ảnh do ông Ngô Thường San cung cấp)

Khi Liên doanh Vietsovpetro được thành lập, hai Chính phủ đã lựa chọn mô hình tổ hợp dầu khí Baku làm hình mẫu phát triển với chuỗi hoạt động đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, nghiên cứu khoa học, thiết kế, xây lắp công trình biển đến các dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ.

Trong bối cảnh đó, ông Jalal Mammadov, một cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm của tổ hợp dầu khí Baku, được cử sang Việt Nam giữ cương vị Tổng Giám đốc đầu tiên của Vietsovpetro. Nhiệm vụ của ông là điều hành một doanh nghiệp dầu khí non trẻ, cùng phía Việt Nam xây dựng bộ máy tổ chức, hệ thống quản trị, cơ sở vật chất kỹ thuật và môi trường làm việc cho một ngành công nghiệp hiện đại trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn đầu thập niên 80 của thế kỷ XX.

Ngay từ những ngày đầu hoạt động, nhiều cán bộ quản lý, kỹ sư, chuyên gia nghiên cứu và công nhân lành nghề của Việt Nam đã được lựa chọn sang học tập Baku, Sakhalin cùng nhiều trung tâm dầu khí khác của Liên Xô. Họ nhanh chóng tiếp cận phương thức quản trị, quy trình kỹ thuật và tiêu chuẩn vận hành hiện đại, tạo nên lực lượng nòng cốt có thể phối hợp hiệu quả với các chuyên gia Liên Xô trong một tổ hợp dầu khí quy mô lớn.

Theo ông Ngô Thường San, trong công việc, ông Jalal Mammadov là người gần gũi, hòa nhã nhưng rất nguyên tắc. Ông luôn tôn trọng ý kiến chuyên môn của cán bộ Việt Nam và thường xuyên trao đổi với ông Nguyễn Hòa, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất của Vietsovpetro, để kịp thời tháo gỡ những vấn đề phát sinh trong quá trình phối hợp giữa hai phía.

Trong giai đoạn đầu, điều ông Jalal Mammadov đặc biệt quan tâm là xây dựng tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và ý thức an toàn cho đội ngũ cán bộ, công nhân. Dưới sự chỉ đạo của ông cùng sự phối hợp giữa chính quyền, công đoàn và tổ chức thanh niên hai phía Việt Nam - Liên Xô, văn hóa lao động công nghiệp, kỷ luật và an toàn từng bước được hình thành, trở thành những giá trị cốt lõi của ngành dầu khí.

Bên cạnh đó, ông cũng đặc biệt quan tâm đến công tác an sinh, bảo vệ an ninh và tài sản của liên doanh. Trong bối cảnh toàn bộ vật tư, thiết bị đều được nhập khẩu từ Liên Xô, việc bảo đảm an toàn cho kho tàng, bến bãi có ý nghĩa sống còn đối với tiến độ xây dựng Vietsovpetro.

Đánh giá về vai trò của ông Jalal Mammadov và các chuyên gia Azerbaijan, ông Ngô Thường San cho rằng đóng góp quan trọng nhất của họ là giúp Việt Nam xây dựng được đội ngũ cán bộ, kỹ sư và nhà quản lý dầu khí đầu tiên.

Với sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô và Azerbaijan, đội ngũ kỹ sư, chuyên gia Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, từng bước tiếp thu kiến thức chuyên môn, phương pháp quản lý và quy trình vận hành của một tổ hợp dầu khí hiện đại. Từ chỗ gần như chưa có kinh nghiệm, Việt Nam đã từng bước làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ dầu khí, từ nghiên cứu khoa học, thiết kế, tìm kiếm, thăm dò đến khai thác, xây lắp công trình biển và dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi.

Chỉ sau 1 năm hoạt động, Vietsovpetro đã xây dựng được cơ sở hạ tầng phục vụ lắp ráp các giàn khai thác. Nếu giàn khai thác đầu tiên phải nhập khẩu đồng bộ từ Baku thì từ giàn thứ hai trở đi, Việt Nam đã có thể chế tạo các khối chân đế đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và tự thực hiện phần lớn công tác lắp ráp tại bãi xây lắp của Vietsovpetro.

Năm 1984, khối chân đế đầu tiên của giàn MSP-1 được hạ thủy tại mỏ Bạch Hổ. 2 năm sau, ngày 26-6-1986, dòng dầu công nghiệp đầu tiên được khai thác và đưa lên tàu chứa dầu để xuất khẩu, đánh dấu việc Việt Nam chính thức gia nhập nhóm các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu thô trên thế giới.

Theo ông Ngô Thường San, đây là một kỳ tích. Chỉ trong vòng 5 năm sau khi thành lập, Vietsovpetro đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ cho công nghiệp dầu khí biển, phát hiện dầu và đưa mỏ vào khai thác thương mại - tốc độ mà không nhiều tập đoàn dầu khí trên thế giới có thể đạt được.

Nhiều cán bộ được đào tạo trong giai đoạn đầu của Vietsovpetro sau này đã trở thành những nhà quản lý chủ chốt của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.

Ông Ngô Thường San cho rằng, dù có ý kiến nhận xét liên doanh thời kỳ đầu còn mang dấu ấn quản lý của thời bao cấp, thực tế đã chứng minh Vietsovpetro trở thành “chim đầu đàn” của ngành dầu khí Việt Nam, cán mốc khai thác 255 triệu tấn dầu thô vào ngày 4-6-2026, hàng chục tỉ mét khối khí và đóng góp gần 60 tỉ USD cho ngân sách Nhà nước kể từ khi thành lập.

Theo ông, những thành tựu đó bắt nguồn từ giai đoạn sơ khởi, khi ông Jalal Mammadov cùng các chuyên gia Azerbaijan và Liên Xô xây dựng bộ máy quản trị, đào tạo nguồn nhân lực và tạo dựng những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam hiện đại.

Để ghi nhận những đóng góp đặc biệt ấy, năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng ông Jalal Mammadov Huân chương Lao động hạng Nhất vì những đóng góp tích cực trong hợp tác đào tạo, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

Từ thủ phủ dầu mỏ Baku đến Vũng Tàu

Việc ông Jalal Mammadov được lựa chọn không phải là ngẫu nhiên. Ông đến từ Azerbaijan - cái nôi của ngành công nghiệp dầu khí Liên Xô. Trong nhiều thập niên, Baku được xem là thủ phủ dầu mỏ của Liên Xô, nơi tích lũy những kinh nghiệm quý giá về khai thác, quản lý và đào tạo nhân lực dầu khí.

Những người từng làm việc cùng ông sau này ghi nhận rằng đóng góp lớn nhất của ông Jalal Mammadov không nằm ở các quyết định kỹ thuật đơn lẻ, mà điều ông để lại là nền nếp, là kỷ luật lao động, là phương thức tổ chức, là tư duy đào tạo con người, đặc biệt, là hệ thống quản trị giúp một liên doanh non trẻ vận hành hiệu quả trong điều kiện vô cùng khó khăn.

Ông Jalal Mammadov tại công trường xây dựng giàn khoan tại Vũng Tàu (ảnh do Đại sứ quán Azerbaijan tại Hà Nội cung cấp)

Ông Jalal Mammadov tại công trường xây dựng giàn khoan tại Vũng Tàu (ảnh do Đại sứ quán Azerbaijan tại Hà Nội cung cấp)

Nếu các nhà địa chất là những người đi tìm dầu dưới lòng đất, thì ông Jalal Mammadov chính là người xây dựng “mỏ dầu trên mặt đất” - bộ máy đủ sức biến tiềm năng thành hiện thực. Trong giai đoạn ông lãnh đạo, Vietsovpetro từng bước hình thành đội ngũ kỹ sư Việt Nam được đào tạo bài bản, làm chủ công nghệ và từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế.

Theo lời kể của ông Tofik Mahammadov, nguyên Phó Chánh kỹ sư kiêm Trưởng ban An toàn Liên doanh Vietsovpetro, đóng góp lớn nhất của ông Jalal Mammadov là xây dựng hệ thống quản trị cho Vietsovpetro. Trong vòng 5 năm, từ một liên doanh gần như chưa có cơ sở vật chất, Vietsovpetro đã hình thành hệ thống gồm 17 phòng, ban chuyên môn cùng mạng lưới khoan, khai thác, vận tải biển, kho bãi và khu nhà ở cho chuyên gia. Đó là nền tảng tổ chức và vận hành giúp liên doanh tiến tới khai thác dòng dầu công nghiệp đầu tiên năm 1986.

Điều quan trọng hơn là ông Jalal Mammadov luôn coi đào tạo con người là nhiệm vụ ưu tiên. Theo ông, thiết bị có thể nhập khẩu, nhưng tương lai của ngành dầu khí Việt Nam phải được quyết định bởi chính những kỹ sư và nhà quản lý người Việt Nam được đào tạo bài bản và làm chủ công nghệ. Nhiều cán bộ trưởng thành từ giai đoạn đó sau này đã trở thành lãnh đạo ngành dầu khí.

Một phần cuộc đời ở Việt Nam

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ những ngày đầu xây dựng Vietsovpetro, nhưng ký ức về Việt Nam vẫn được gìn giữ nguyên vẹn trong gia đình ông Jalal Mammadov.

Tại Baku, anh Heydar Mammadov - cháu nội ông Jalal - kể rằng ông mình luôn nhắc đến Việt Nam với sự trân trọng đặc biệt. Trong những câu chuyện của mình, Việt Nam không chỉ là nơi ông từng công tác mà còn là nơi ông dành nhiều tâm huyết trong những năm tháng xây dựng Vietsovpetro.

“Ông luôn nói về Việt Nam với niềm tự hào rất riêng. Ông coi những năm tháng ở đây là một phần cuộc đời mình”, anh Heydar chia sẻ.

Tình cảm ấy đã được truyền lại qua nhiều thế hệ. Vào dịp Tết năm 2024, anh Heydar cùng cha là ông Elkhan Mammadov và vợ mình là chị Sanubar Mammadova đã tới Việt Nam, dành hai tuần thăm Vũng Tàu và trụ sở Vietsovpetro - nơi người cha và người ông mình từng gắn bó.

“Chúng tôi muốn tận mắt nhìn thấy nơi ông tôi đã sống và cống hiến. Đó không đơn thuần là một chuyến đi mà là hành trình tìm về những dấu chân ông để lại”, anh Heydar bày tỏ.

Bước vào trụ sở Vietsovpetro, nơi ông nội mình từng làm việc hơn 40 năm trước, anh cảm thấy vừa tự hào vừa xúc động. Những người từng biết hoặc từng nghe về ông Jalal Mammadov đón tiếp gia đình bằng sự chân thành, thân tình như đón những người thân trở về sau nhiều năm xa cách.

Gia đình anh Heydar Mammadov - cháu nội ông Jalal ở Vũng Tàu (ảnh do gia đình ông Elkhan Mammadov cung cấp)

Gia đình anh Heydar Mammadov - cháu nội ông Jalal ở Vũng Tàu (ảnh do gia đình ông Elkhan Mammadov cung cấp)

Trong những ngày ở Việt Nam, đoàn khách Azerbaijan gặp gỡ nhiều cán bộ dầu khí, lắng nghe những câu chuyện về giai đoạn đầu của Vietsovpetro và hiểu rõ hơn những gì ông Jalal đã để lại. Điều khiến Heydar cảm kích nhất là sự trân trọng mà những người trẻ dành cho các tiền bối.

“Tôi nhận ra rằng thế hệ của ông tôi không chỉ để lại những công trình hay quy trình quản lý mà còn là con người - những kỹ sư được đào tạo bài bản, có kỷ luật, có khả năng làm chủ công nghệ và tự tin tiếp bước lớp những người đi trước”, anh nhìn nhận.

Khi chia tay Việt Nam, Heydar nói các thành viên nhà Mammadov đến với tâm thế của những người đi tìm lại câu chuyện cá nhân, nhưng rời đi với cảm giác được đón nhận bởi một gia đình lớn hơn.

Người viết bài này còn vinh dự được anh Heydar đưa tới con đường mang tên Vũng Tàu giữa lòng thủ đô Baku. Anh kể rằng tại Việt Nam cũng có đường Ba Cu, cái tên bắt nguồn từ Baku. Với anh, những địa danh ấy là minh chứng của tình hữu nghị được bồi đắp theo năm tháng.

“Những di sản và biểu tượng ấy cần được tiếp tục lan tỏa bằng giao lưu nhân dân. Tôi không làm trong ngành dầu khí như ông mình, nhưng tôi có thể tiếp nối sự gắn kết ấy theo cách riêng. Tôi muốn người trẻ Azerbaijan hiểu hơn về Việt Nam và người trẻ Việt Nam hiểu hơn về Azerbaijan”, anh Heydar bộc bạch.

Ngày nay, khi nhắc đến quan hệ Việt Nam - Azerbaijan, người ta thường nhớ tới chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Baku năm 1959, hàng nghìn lưu học sinh Việt Nam từng học tập tại Azerbaijan hay những dự án hợp tác năng lượng giữa hai nước. Trong đó, ông Jalal Mammadov là một mắt xích đặc biệt của lớp chuyên gia đã mang tri thức, kinh nghiệm và cả tuổi trẻ của mình đến Việt Nam trong những năm tháng khó khăn nhất. Họ không chỉ góp phần xây dựng một doanh nghiệp dầu khí, mà quan trọng hơn, giúp hình thành năng lực nội sinh cho một ngành kinh tế chiến lược của Việt Nam.

Đóng góp lớn nhất của ông Jalal Mammadov là xây dựng hệ thống quản trị cho Vietsovpetro. Đó là nền tảng tổ chức và vận hành giúp liên doanh tiến tới khai thác dòng dầu công nghiệp đầu tiên năm 1986.

Linh Phạm

Nguồn PetroTimes: https://petrovietnam.petrotimes.vn/chuyen-ve-tong-giam-doc-dau-tien-cua-vietsovpetro-743146.html