Cơ chế đặc thù đưa du lịch 'tăng tốc' thành ngành kinh tế mũi nhọn
Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy và mô hình phát triển du lịch để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Việc nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý, trao quyền chủ động cho địa phương bằng những cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội chính là "chìa khóa" khơi thông toàn diện các nguồn lực.

Khai thác tốt nguồn lực sẵn có
UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành kế hoạch về phát triển du lịch thành phố đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Theo đó, Hải Phòng mục tiêu trở thành trung tâm du lịch chất lượng cao; trung tâm du lịch biển, văn hóa và di sản tầm khu vực, quốc tế; đồng thời nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế, tạo động lực phát triển đối với các ngành, lĩnh vực khác, gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hoá, thể thao.
Mục tiêu đến năm 2030, Hải Phòng phấn đấu trở thành trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước, đóng góp trên 5% GRDP. Thành phố thu hút trên 25 triệu lượt khách du lịch; tổng doanh thu từ du lịch đạt 50.000 tỉ đồng; bảo đảm trên 25.000 phòng lưu trú du lịch. Kế hoạch cũng đặt mục tiêu đến năm 2045, du lịch Hải Phòng thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp trên 10% GRDP; đưa Cát Bà trở thành hình mẫu giao thông xanh, không sử dụng phương tiện nhiên liệu hóa thạch.
Ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, sau khi mở rộng không gian phát triển, Gia Lai có thêm nhiều lợi thế để phát triển du lịch, nghỉ dưỡng. Theo thống kê, trong 9 tháng đầu năm 2026, Gia Lai đón hơn 13,5 triệu lượt khách, tăng 25% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch đạt khoảng 29.210 tỷ đồng. Du lịch được Gia Lai xác định là một trong 5 trụ cột tăng trưởng giai đoạn 2025-2030.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, bà Đỗ Thị Diệu Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai cho biết, Gia Lai chú trọng phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là kết nối hàng không. Tỉnh phát huy vai trò của Cảng hàng không Phù Cát và Cảng hàng không Pleiku, đồng thời tăng cường liên kết giữa hàng không, đường bộ và đường sắt nhằm tạo thuận lợi cho việc di chuyển của du khách giữa các vùng.
Ông Lê Đăng Tuấn, Phó giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai cũng cho biết, tỉnh xác định động lực của chu kỳ mới không chỉ đến từ việc có thêm dự án, mà trước hết phải đến từ việc đưa các nguồn lực hiện có vào khai thác hiệu quả, tạo ra sản phẩm du lịch thực chất và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Và để du lịch bứt phá đóng góp vào tăng trưởng, cần hội tụ 4 điều kiện. Đó là, quy hoạch xác định rõ các không gian ưu tiên phát triển du lịch, nghỉ dưỡng và những khu vực cần bảo tồn. Hạ tầng kết nối đồng bộ, đặc biệt là kết nối giữa các trung tâm đô thị, sân bay, các khu du lịch ven biển và khu vực cao nguyên, qua đó tạo thuận lợi cho việc hình thành những hành trình du lịch liên vùng.
Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch có sự khác biệt, khai thác hiệu quả lợi thế thiên nhiên, văn hóa, khí hậu và đặc điểm của từng khu vực, tránh phát triển trùng lặp, thiếu bản sắc. Môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, với sự đồng hành của chính quyền và khả năng giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền.
Có thể thấy, khát vọng và sự chủ động của các địa phương như Hải Phòng hay Gia Lai là điều kiện cần, song để tạo bước chuyển mang tính cách mạng cho toàn ngành, điều kiện đủ phải đến từ những quyết sách tầm vĩ mô và sự tháo gỡ triệt để các rào cản thể chế.
Ở góc độ vĩ mô, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã đặt ra yêu cầu về đổi mới mô hình phát triển du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh, phát huy giá trị văn hóa, huy động nguồn lực và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp cộng đồng; đồng thời đề ra các chỉ tiêu mục tiêu cụ thể phát triển du lịch đến năm 2030 và các cơ chế chính sách cần nghiên cứu để thể chế hóa triển khai thực hiện. Nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày tóm tắt Tờ trình dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam
Thiết kế địa bàn ưu đãi, áp dụng chính sách theo thứ tự
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, qua rà soát cho thấy, trong 22 cơ chế chính sách tại Nghị quyết 26-NQ/TW cần được thể chế hóa, triển khai thực hiện tập trung vào hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất là nhóm các cơ chế chính sách chưa có quy định của pháp luật hoặc đã có quy định pháp luật nhưng chưa đủ mạnh, vượt trội, bao trùm và mang tính cấp bách đòi hỏi của thực tiễn, cần phải triển khai sớm để thể chế hóa kịp thời, tạo chuyển biến rõ rệt và tác động trực tiếp để đạt được các mục tiêu quan trọng của Nghị quyết 26-NQ/TW. Nhóm thứ hai là nhóm cơ chế chính sách đã có quy định của pháp luật, tuy nhiên còn vướng mắc tại các quy định chi tiết hoặc cần được thể chế hóa tiếp thuộc thẩm quyền của Chính phủ, hoặc cần nghiên cứu đánh giá tác động để sửa đổi, bổ sung, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, toàn diện tại các pháp luật chuyên ngành.
Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh, việc ban hành nghị quyết là cần thiết nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo đột phá để góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển du lịch đến năm 2030, với ba cực tăng trưởng (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia, 15 tập đoàn có thương hiệu mạnh, 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp cho lĩnh vực du lịch... Trong đó, dự thảo nghị quyết giao Chính phủ quy định chi tiết các thủ tục hành chính và tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương, cấp tỉnh, quyết định các chính sách hỗ trợ du lịch cộng đồng, đường bay mới, thu hút nhân lực và nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo.
Dù cơ chế đặc thù là yêu cầu tất yếu, song việc thiết kế các quy định thế nào để vừa tạo môi trường đầu tư thông thoáng, vừa đảm bảo tính khả thi và kỷ cương pháp luật đang là vấn đề được cơ quan lập pháp đặc biệt quan tâm.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho rằng, Dự thảo cần cân nhắc các quy định về đối tượng áp dụng và nguyên tắc thực hiện tại các điều trong dự thảo Nghị quyết để tránh gây xung đột trong áp dụng luật, có thể vô hiệu hóa các cơ chế đặc thù được quy định tại Nghị quyết này; cơ quan soạn thảo rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thiết kế địa bàn ưu đãi, áp dụng chính sách theo thứ tự như trong Nghị quyết 26-NQ/TW; rà soát thiết kế lại các quy định để được hưởng chính sách ưu đãi; rà soát quy định về thẩm quyền và thời điểm áp dụng đối với chính sách miễn giảm tiền thuê đất đối với các dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược; rà soát các quy định về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch; rà soát các chính sách về hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch; chính sách thị thực đối với nhóm chuyên gia lao động kỹ thuật, nghệ sĩ, nhân viên...
Bên cạnh đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đề nghị, cơ quan soạn thảo rà soát kỹ lưỡng tên gọi của Nghị quyết; đồng thời, làm rõ nội dung nào là thí điểm, nội dung nào thực hiện ngay và chỉ đưa vào dự thảo Nghị quyết những cơ chế, chính sách đặc thù bảo đảm bám sát Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong đó, rà soát theo hướng bảo đảm các cơ chế, chính sách phải thực sự cấp bách và tạo ra sự đột phá, tránh dàn trải.
