Cơ sở hậu phương đầu tiên cho hành trình tiến ra biển lớn (kỳ 1)
Những ngày đầu xây dựng hậu phương
Cuối năm 1976, khi những hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên thềm lục địa phía Nam bắt đầu được triển khai, một bài toán cấp thiết đặt ra đối với ngành dầu khí Việt Nam: lấy đâu ra cơ sở hậu cần để phục vụ những chuyến tàu khảo sát, những chiến dịch khoan tìm kiếm và khối lượng vật tư, thiết bị phải vận chuyển ra biển?
Đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, nguồn lực kinh tế còn nhiều hạn chế, trong khi công nghiệp dầu khí ngoài khơi đòi hỏi những điều kiện kỹ thuật đặc thù. Những con tàu khảo sát cần nhiên liệu, nước ngọt, vật tư và các dịch vụ hỗ trợ. Thiết bị khoan, ống chống, cần khoan và hàng hóa chuyên dụng cần được tiếp nhận, lưu giữ, vận chuyển. Cùng với đó là nhu cầu sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và bố trí nhân lực phục vụ những chiến dịch kéo dài trên biển.
Khi ấy, Vũng Tàu chưa có một căn cứ hậu cần dầu khí chuyên dụng đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu này. Các nhà thầu nước ngoài phải sử dụng dịch vụ từ Singapore, cách xa khu vực hoạt động, khiến chi phí vận chuyển gia tăng và làm hạn chế khả năng chủ động của phía Việt Nam.
Trong bối cảnh ấy, việc xây dựng cơ sở hậu cần đầu tiên cho ngành dầu khí trở thành một nhiệm vụ quan trọng, gắn liền với chủ trương phát triển hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.

Lãnh đạo Công ty Dịch vụ Dầu khí (PSC) họp bàn về công tác đầu tư xây dựng, chuẩn bị phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động dầu khí.
Ngày 24/11/1976, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng căn cứ dịch vụ dầu khí Vũng Tàu. Ba ngày sau, Ban Kiến thiết căn cứ dịch vụ dầu khí Vũng Tàu được thành lập, trực thuộc Công ty Dầu khí Nam Việt Nam. Đây là những bước đi đặt nền móng cho việc tổ chức lực lượng dịch vụ dầu khí trên bờ, một trong những điều kiện quan trọng để ngành dầu khí Việt Nam tiến ra biển.
Trong hồi ức về những năm tháng đầu tiên làm dịch vụ dầu khí, ông Lê Quang Trung, nguyên Giám đốc Xí nghiệp Dịch vụ Dầu khí Vũng Tàu, vẫn nhớ rõ câu chuyện xây dựng cầu cảng đầu tiên.
Để có cầu cảng chuyên dụng, Ban Kiến thiết từng liên hệ Công ty Comex của Pháp. Phía đối tác đưa ra phương án xây dựng cầu cảng dài 105m, rộng 25m, với thời gian thi công một năm và kinh phí 25 triệu USD.
Đó là khoản chi phí rất lớn đối với đất nước trong hoàn cảnh bấy giờ. Sau khi cân nhắc, Ban Kiến thiết đề xuất Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (gọi tắt là Tổng cục Dầu khí, tiền thân của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam - PETROVIETNAM) báo cáo Chính phủ cho phép Việt Nam tự đảm nhận công trình.
Nhiệm vụ được giao cho Liên hiệp Công trình giao thông 6 (Cienco 6). Bằng sự huy động nhân lực, phương tiện và tổ chức thi công khẩn trương, sau 100 ngày đêm, cầu cảng dài 105m, rộng 25m được hoàn thành vào ngày 30/9/1977, kịp phục vụ tàu khảo sát địa vật lý của Công ty Geco vào tiếp nhận thiết bị, nhiên liệu và nước sạch.
Bước sang đầu thập niên 1980, nhu cầu hậu cần tiếp tục gia tăng mạnh khi hoạt động hợp tác dầu khí Việt Nam - Liên Xô được triển khai. Hàng loạt chuyến tàu chở vật tư, thiết bị từ Liên Xô cập cảng Vũng Tàu, mang theo sắt thép, xi măng, máy móc và phương tiện phục vụ xây dựng cơ sở công nghiệp dầu khí.
Những năm ấy, đời sống người làm dịch vụ dầu khí cũng vô cùng chật vật. Trong ký ức của ông Lê Quang Trung, khẩu phần lương thực được cấp chủ yếu là bo bo, sắn khô, ngô hạt, có khi cả chuối xanh. Công việc ngày một nhiều, nhưng điều kiện sinh hoạt còn rất thiếu thốn.
Những cán bộ làm dịch vụ phải tổ chức bốc dỡ hàng hóa liên tục, có thời điểm làm việc ba ca để giải phóng tàu. Ông Trung cùng ông Nguyễn Quang Thọ thường xuyên có mặt ở bến, trực tiếp chỉ đạo bốc dỡ và động viên anh em. Có lần, khi những bao xi măng cũ liên tục bị vỡ trong quá trình vận chuyển, ông Thọ xuống tận hầm tàu hướng dẫn công nhân xử lý. Lúc trở lên, quần áo, tóc tai ông phủ trắng bụi xi măng, mắt đỏ vì bụi. Ông chỉ nhờ đồng nghiệp phủi qua lớp bụi bám trên người rồi tiếp tục công việc.
Những bữa cơm vội giữa ca, những bộ quần áo phủ bụi xi măng và những ngày đêm bám cảng ấy đã trở thành một phần ký ức về thời kỳ đầu xây dựng lực lượng dịch vụ dầu khí Việt Nam.
Từ cơ sở khiêm tốn đến tổ hợp công nghiệp biển hiện đại bậc nhất
Năm 1982 một phần lực lượng cùng hệ thống kho bãi, cầu cảng, trang thiết bị của Xí nghiệp Dịch vụ Dầu khí được chuyển giao sang Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt - Xô (nay là Liên doanh Vietsovpetro), phục vụ yêu cầu phát triển hoạt động dầu khí trong giai đoạn mới. Đây cũng là dấu mốc phân định về tổ chức và hạ tầng giữa cơ sở dịch vụ ban đầu của ngành với các căn cứ được đầu tư, phát triển trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, nhu cầu hình thành một lực lượng dịch vụ Việt Nam đủ sức phục vụ nhiều nhà thầu dầu khí trên thềm lục địa ngày càng trở nên cấp thiết.

Khu Cảng Dịch vụ Dầu khí PTSC Vũng Tàu trong giai đoạn đầu tư mở rộng giai đoạn I, năm 1995
Năm 1986, Công ty Dịch vụ Dầu khí (PSC) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Xí nghiệp Dịch vụ Dầu khí và Công ty Phục vụ đời sống. Thời gian đầu, PSC chủ yếu cung ứng lương thực, thực phẩm, hàng hóa và các dịch vụ sinh hoạt. Từ năm 1988, Công ty bắt đầu phát triển mạnh hơn các dịch vụ dầu khí chuyên ngành, trong điều kiện nguồn lực còn nhiều hạn chế.
PSC khi đó chỉ có một tàu đông lạnh chuyên chở thực phẩm để thực hiện dịch vụ tàu bảo vệ. Muốn đáp ứng yêu cầu của khách hàng, Công ty phải thuê tàu Bình Minh của Công ty Địa vật lý, tàu của Hải quân, phương tiện của đơn vị trục vớt cứu hộ, thậm chí cả tàu đánh cá. Bên cạnh đó, PSC làm đại lý, môi giới cho các hãng tàu nước ngoài để bổ sung năng lực phục vụ hoạt động dầu khí.
Đến cuối năm 1989, Tổng cục Dầu khí quyết định chuyển giao Cảng Thượng lưu, trong đó có bến cảng dài 152,7m, cho PSC. Ngay sau đó, Công ty thành lập Ban Quản lý xây dựng Cảng dịch vụ, do ông Nguyễn Văn Thịnh, Phó Giám đốc PSC, kiêm Trưởng ban. Ông Đặng Lừng, Phó phòng Kinh tế - Kế hoạch, được giao chỉ đạo công tác thi công xây dựng. Xí nghiệp Cảng dịch vụ dầu khí thuộc PSC cũng được thành lập, do ông Nguyễn Ngọc Lâm làm Giám đốc.
Năm 1990, Tổng cục Dầu khí tiếp tục quyết định chuyển giao phân đoạn 9 và 10 Cảng Hạ lưu cùng diện tích bãi tương ứng để PSC phát triển các cơ sở dịch vụ. Song song với đó là việc triển khai dự án Kho xăng dầu Vũng Tàu.
Từ những cơ sở còn khiêm tốn, lực lượng dịch vụ bắt đầu đảm nhận hoạt động hậu cần cho các nhà thầu như ONGC, Enterprise Oil, Petronas Carigali. Cảng trở thành nơi tiếp nhận vật tư, thiết bị và tổ chức cung ứng cho những chiến dịch tìm kiếm, thăm dò dầu khí ngoài khơi.
Năm 1993, Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PTSC) được thành lập trên cơ sở sáp nhập PSC và Công ty Địa vật lý và Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (GPTS). Lúc này, căn cứ Cảng Dịch vụ Dầu khí Vũng Tàu đã được mở rộng lên 250m cầu cảng, 1.500m² kho kín, gần 5.000m² bãi rải đá, hai xe cẩu và bốn xe nâng.
Tuy nhiên, hoạt động dầu khí trên thềm lục địa phía Nam cũng bắt đầu bước vào giai đoạn mở rộng. Nhiều hợp đồng phân chia sản phẩm được ký kết, các nhà thầu quốc tế đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò và chuẩn bị phát triển mỏ. Khối lượng thiết bị, vật tư và hóa phẩm khoan cần tập kết, vận chuyển tăng nhanh, đòi hỏi một hệ thống căn cứ cảng có quy mô và năng lực kỹ thuật lớn hơn.
Đứng trước yêu cầu ấy, PTSC quyết định tiếp tục đầu tư mở rộng căn cứ về phía hạ lưu sông Dinh, xây dựng một cơ sở dịch vụ dầu khí đa năng theo tiêu chuẩn quốc tế.
(còn tiếp)


