Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc trong 24 giờ kể từ khi có yêu cầu

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 63/2026/TT-BCT ngày 30/9/2026 quy định về cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, trong đó quy định việc tạo lập, quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu và truy xuất nguồn gốc thực phẩm.

Hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm được thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau” - Ảnh: nongthonviet.vn

Hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm được thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau” - Ảnh: nongthonviet.vn

Thông tư quy định việc tạo lập, quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương phục vụ công tác quản lý nhà nước về công nghiệp thực phẩm, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm hàng hóa, truy xuất nguồn gốc thực phẩm và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương.

Đối tượng áp dụng gồm các cơ quan quản lý nhà nước về thực phẩm, các tổ chức đánh giá sự phù hợp, các cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương; các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Thông tư không áp dụng đối với thực phẩm do hộ gia đình, cá nhân sản xuất, chế biến để sử dụng và không kinh doanh trên thị trường.

Cơ sở dữ liệu thực phẩm gồm 8 nhóm dữ liệu chủ yếu

Theo Thông tư, cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương là tập hợp các dữ liệu được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, chia sẻ, quản lý và cập nhật, thuộc hợp phần của cơ sở dữ liệu ngành Công Thương.

Cơ sở dữ liệu bao gồm 8 nhóm dữ liệu chủ yếu: dữ liệu về cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; dữ liệu về sản phẩm thực phẩm; dữ liệu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và hồ sơ công bố sản phẩm; dữ liệu về cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu, cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng và kết quả thực hiện nhiệm vụ; dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm hành chính, cảnh báo, thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn; dữ liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và đánh giá sự phù hợp có liên quan đến thực phẩm; dữ liệu về truy xuất nguồn gốc thực phẩm; dữ liệu báo cáo, thống kê và dữ liệu khác phục vụ quản lý nhà nước về thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và hệ thống thông tin có liên quan theo quy định của pháp luật.

Đối với dữ liệu đã được tạo lập trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử hoặc đã có trong cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, Thông tư quy định được khai thác, sử dụng lại cho Cơ sở dữ liệu thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Truy xuất nguồn gốc theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau”

Thông tư quy định hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm được thực hiện theo nguyên tắc “một bước trước - một bước sau”. Theo đó, cơ sở phải lưu giữ thông tin để bảo đảm khả năng giám sát, nhận diện được công đoạn trước và công đoạn kế tiếp trong quá trình sản xuất, kinh doanh đối với một sản phẩm thực phẩm được truy xuất nguồn gốc.

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải thiết lập, lưu trữ đầy đủ các thông tin liên quan về hoạt động sản xuất, kinh doanh và hồ sơ, tài liệu về toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh để phục vụ việc truy xuất nguồn gốc.

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu

Đối với cơ sở sản xuất, các thông tin phải lưu trữ gồm tên, hình ảnh sản phẩm; thương hiệu, nhãn hiệu, số sê-ri sản phẩm (nếu có); thông tin về quy cách đóng gói, chất liệu bao bì, thành phần trong thực phẩm; thời hạn sử dụng; các tiêu chuẩn, quy chuẩn được áp dụng; thông tin về lô/mẻ sản phẩm; địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện theo dõi trọng yếu; thông tin liên quan đến khách hàng, đại lý, nhà phân phối, đơn vị vận chuyển, bảo quản, lưu kho, nhà cung cấp nguyên liệu/bán thành phẩm và các thông tin khác theo quy định.

Đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm, phải tiếp nhận và lưu trữ thông tin, giấy tờ từ cơ sở sản xuất; hợp đồng, hóa đơn, chứng từ mua bán, vận chuyển với khách hàng, đại lý, nhà phân phối, đơn vị vận chuyển, bảo quản, lưu kho, nhà cung cấp sản phẩm; thông tin về địa điểm, thời gian diễn ra sự kiện theo dõi trọng yếu.

Thông tư cũng quy định các thông tin cần lưu trữ đối với sản phẩm thực phẩm nhập khẩu. Đối với sản phẩm thực phẩm xuất khẩu, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện truy xuất nguồn gốc theo quy định của nước nhập khẩu; những sản phẩm thực phẩm vừa xuất khẩu vừa lưu thông trong nước khi tiêu thụ tại thị trường Việt Nam phải tuân thủ quy định tại Thông tư.

Cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc trong vòng 24 giờ

Theo Thông tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm lưu trữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm bảo đảm an toàn, bảo mật, không bị thay đổi, sai lệch và phải bảo đảm sẵn sàng cung cấp, trích xuất khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khi cần thực hiện truy xuất theo yêu cầu.

Thời hạn lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm tối thiểu là 12 tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng đối với sản phẩm thực phẩm có hạn sử dụng; 60 tháng kể từ ngày sản xuất đối với sản phẩm thực phẩm không yêu cầu bắt buộc ghi hạn sử dụng.

Đặc biệt, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm có thể cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Khi tự giám sát, phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn hoặc khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ sở sản xuất thực phẩm phải tiến hành truy xuất nguồn gốc. Các bước gồm xác định thông tin liên quan của lô sản phẩm cần truy xuất; rà soát hồ sơ sản xuất, hồ sơ kiểm nghiệm để xác định nguyên nhân vi phạm; liên hệ với nhà cung cấp nguyên liệu, bao bì; gửi thông báo khẩn cấp đến các nhà phân phối, đại lý đã nhận lô sản phẩm; phân tích, xác định nguyên nhân gây mất an toàn và lập báo cáo kết quả thực hiện việc truy xuất nguồn gốc.

Đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm, khi tự giám sát, phát hiện sản phẩm không bảo đảm an toàn hoặc có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng phải tiến hành truy xuất nguồn gốc; gửi thông báo khẩn cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối cung cấp lô sản phẩm và phối hợp với cơ sở sản xuất thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương thực hiện truy xuất nguồn gốc và cung cấp thông tin lên Hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc hàng hóa rủi ro cao của Bộ Công Thương.

Thông tư số 63/2026/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/11/2026 và thay thế Thông tư số 11/2026/TT-BCT ngày 27/2/2026 quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Thy Thảo

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/co-so-san-xuat--kinh-doanh-thuc-pham-phai-cung-cap-ho-so-truy-xuat-nguon-goc-trong-24-gio-ke-tu-khi-co-yeu-cau-555708.htm