Có thể vay tới 200 triệu đồng để tự tạo việc làm
Ngày 25-12-2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 338 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm, có hiệu lực từ ngày 1-1-2026. Trong nghị định có quy định về chính sách tín dụng ưu đãi dành cho người lao động (NLĐ) có nhu cầu vay vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Để hiểu rõ hơn những điểm mới của nghị định, Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa phỏng vấn ông Lê Văn Thành - Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh.

Ông Lê Văn Thành - Phó Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh.
- Ông có thể khái quát những nội dung chính liên quan đến chính sách cho vay hỗ trợ tạo việc làm của Nghị định số 338?
- Nghị định số 338 quy định rõ đối tượng, mức vay, thời hạn vay và lãi suất cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm thông qua NHCSXH. Theo đó, NLĐ từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc đều có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi này. Đây là điểm mở rộng quan trọng, thể hiện tính nhân văn và sát thực tiễn của chính sách, góp phần tạo sinh kế, ổn định đời sống cho NLĐ.
- Dư luận quan tâm mức vay tối đa mới cho NLĐ là 200 triệu đồng/người. Ông đánh giá như thế nào về chính sách này?
- Có thể nói, việc nâng mức vay tối đa lên 200 triệu đồng/NLĐ (gấp đôi so với quy định trước đó) là một bước tiến rất lớn. Trên thực tế, chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm ngày càng tăng, nhất là trong các lĩnh vực như dịch vụ, nuôi trồng thủy sản, tiểu thủ công nghiệp hay khởi nghiệp nhỏ. Mức vay mới sẽ giúp NLĐ có thêm nguồn lực tài chính để triển khai các phương án sản xuất khả thi, bền vững hơn. Tuy nhiên, NHCSXH không áp dụng cứng nhắc mức vay này mà sẽ căn cứ vào nguồn vốn, phương án vay vốn và khả năng trả nợ của từng đối tượng để thỏa thuận, quyết định mức vay cụ thể, bảo đảm vừa hỗ trợ NLĐ, vừa an toàn cho nguồn vốn chính sách.
- Trường hợp địa phương có điều kiện tốt hơn, mức vay có thể cao hơn 200 triệu đồng không, thưa ông?
- Nghị định đã tính đến yếu tố này. Theo đó, đối với nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH, nếu điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương bảo đảm thì UBND tỉnh có thể trình HĐND tỉnh xem xét quyết định mức vay tối đa cao hơn mức vay tại nghị định này. Đây là cơ chế rất linh hoạt, tạo điều kiện để địa phương chủ động hỗ trợ NLĐ phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
- Về thời hạn vay và lãi suất, nghị định quy định cụ thể ra sao, thưa ông?
- Thời hạn vay vốn tối đa 120 tháng. NHCSXH sẽ căn cứ vào nguồn vốn và khả năng trả nợ của người vay để thống nhất thời hạn vay phù hợp, tránh gây áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Về lãi suất được tính theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định, trong đó một số nhóm đối tượng yếu thế sẽ được hưởng mức lãi suất bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo, như: NLĐ là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo; người Kinh thuộc hộ nghèo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; NLĐ là người khuyết tật; người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng và NLĐ thuộc các nhóm trên vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ngoài ra, Chính phủ có thể bổ sung thêm đối tượng phù hợp trong từng giai đoạn.

Việc mở rộng và nâng mức vay vốn tạo việc làm sẽ góp phần giúp người lao động có điều kiện đầu tư sản xuất, kinh doanh. Trong ảnh: Nghề đan tranh của người dân xã Suối Hiệp.
- Thủ tục vay vốn theo nghị định mới có gì đáng lưu ý, thưa ông?
- NLĐ có nhu cầu vay vốn nộp hồ sơ trực tiếp tại NHCSXH. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, ngân hàng sẽ thông báo kết quả phê duyệt cho vay. Chúng tôi cũng sẽ hướng dẫn chi tiết về hồ sơ, quy trình, thủ tục, bảo đảm đơn giản, thuận lợi và linh hoạt, giúp NLĐ dễ dàng tiếp cận chính sách.
- Ông có kỳ vọng gì khi nghị định này đi vào cuộc sống?
- Tôi tin rằng Nghị định số 338 sẽ tạo động lực rất lớn cho NLĐ, đặc biệt là các nhóm yếu thế, mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho bản thân và cộng đồng. Đối với NHCSXH tỉnh sẽ chủ động phối hợp với các sở, ngành, địa phương để tuyên truyền, triển khai hiệu quả chính sách, đưa nguồn vốn ưu đãi đến đúng đối tượng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế bền vững.












