Công cuộc đổi mới - khởi xướng và tiếp nối

Cách nhau 40 năm (1986 - 2026), Đại hội Đảng VI và Đại hội XIV, một sự trùng lặp lịch sử đáng để suy ngẫm, giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Tổng Bí thư Tô Lâm - người khởi đầu công cuộc đổi mới, người tiếp nối và phát triển công cuộc đổi mới ở mức độ cao hơn, quyết liệt hơn, hoàn thiện và phát triển bền vững hơn, bảo đảm môi trường chính trị - xã hội ổn định để phát triển đất nước.

Đại hội VI - khởi đầu công cuộc đổi mới

Trước Đại hội VI (tháng 12/1986), Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế, xã hội do hậu quả chiến tranh, cấm vận quốc tế, nền kinh tế trì trệ, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cứng nhắc kéo dài, dẫn đến thiếu linh hoạt trong sản xuất và phân phối. Hệ thống phân phối hàng hóa và dịch vụ bị rối loạn, gây ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa thiết yếu. Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp suy giảm, năng suất thấp, thiếu đầu tư, cơ chế quản lý chưa phù hợp. Tình hình đó đã dẫn đến lạm phát tăng cao, nợ công tăng, ngân sách nhà nước bị thâm hụt, thiếu ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và hàng hóa thiết yếu; đời sống Nhân dân khó khăn, người dân phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn hàng hóa thiết yếu và các dịch vụ xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Đại hội XIV

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Đại hội XIV

Những khó khăn kinh tế và mô hình kinh tế cũ, tạo áp lực mạnh mẽ đòi hỏi phải đổi mới, đây là nguyên nhân chính thúc đẩy Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và phát triển bền vững. Đại hội VI xác định đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tổ chức, tư tưởng, văn hóa.

Trước hết là đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế, từ cách quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện, xây dựng cơ chế kinh tế mới, khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Đổi mới cơ chế quản lý, mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị sản xuất, thúc đẩy kinh tế nhiều thành phần phát triển. Đại hội cũng nhấn mạnh việc xúc tiến và hoàn thành chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật, coi đây là luận cứ khoa học để đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.

Đại hội đề cao vai trò của Đảng trong công cuộc đổi mới, yêu cầu Đảng phải đổi mới về nhiều mặt, đặc biệt là đổi mới tư duy và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu. Đại hội VI được xem là mốc khởi đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện của Việt Nam, mở ra kỷ nguyên phát triển mới. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh được đánh giá là người lãnh đạo sáng tạo, nhạy bén và chủ động trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầu đổi mới. Ông đã có vai trò quan trọng trong việc mở đường cho các chính sách đổi mới kinh tế, xã hội, góp phần ổn định và phát triển đất nước.

Đại hội XIV - nối tiếp sự nghiệp đổi mới với những cơ hội, thách thức

Sau 40 năm đổi mới, đất nước đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì đà tăng trưởng khá; nền kinh tế đạt quy mô hơn 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới, thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD lên hơn 5.000 USD, gấp 50 lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới… Văn kiện Đại hội XIV nêu rõ: sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới, tạo tiền đề quan trọng để đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển. Cùng với đó, là không ít thách thức cần phải vượt qua.

Đại hội XIV đề ra mục tiêu tổng quát: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Với quan điểm phát triển và những định hướng, chỉ tiêu, giải pháp được Đại hội thông qua, công cuộc đổi mới sẽ tiếp tục thực hiện ở tầm cao hơn, toàn diện, sáng tạo và quyết liệt để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng với thế giới. Tổng Bí thư Tô Lâm là người lãnh đạo có tư duy đổi mới quyết liệt, đã có những bước đi táo bạo trong cải cách hành chính và kinh tế, thể hiện sự quyết đoán, đổi mới trong phong cách điều hành, và sẽ là người tiếp tục dẫn đầu chèo lái con thuyền Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Sự tiếp nối lịch sử - giai đoạn cao hơn của sự nghiệp đổi mới

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người khởi xướng và dẫn dắt công cuộc đổi mới, mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam với các chính sách cải cách kinh tế, mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế.

40 năm sau, Tổng Bí thư Tô Lâm, trong vai trò tiếp tục phát triển các chính sách đổi mới trong bối cảnh Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới, với các thách thức và yêu cầu khác biệt so với thời kỳ đầu đổi mới; tiếp tục công cuộc đổi mới nhưng ở mức độ cao hơn, quyết liệt hơn, hoàn thiện và phát triển bền vững hơn, bảo đảm môi trường chính trị - xã hội ổn định để phát triển đất nước.

Văn kiện Đại hội XIV thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển: xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng; phát triển xanh, bền vững, hiệu quả; kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu bắt buộc; hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng suất lao động là thước đo chất lượng tăng trưởng.

Sự trùng lặp về vai trò của hai Tổng Bí thư thể hiện sự liên tục và kế thừa trong lãnh đạo của Đảng. Công cuộc đổi mới là một quá trình phát triển liên tục qua nhiều thế hệ, với mỗi thế hệ lãnh đạo có những đóng góp và trọng trách riêng biệt.

Tâm Anh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/cong-cuoc-doi-moi-khoi-xuong-va-tiep-noi-10404883.html