Công nghiệp chế biến, chế tạo: Tìm 'đường đi' qua sản phẩm mũi nhọn

Trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và cơ hội tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, việc lựa chọn phát triển các sản phẩm mũi nhọn đang trở thành hướng đi chiến lược của nhiều doanh nghiệp (DN) trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CN CBCT). Không chỉ là câu chuyện nâng cao giá trị gia tăng, đây còn là bước chuyển cần thiết để thích ứng với thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị...

Khi sản phẩm mũi nhọn trở thành lựa chọn...

Theo Cục Thống kê, sản xuất CN trong quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất CN ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay, trong đó CN CBCT tăng tới 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Đánh giá về tiềm năng của lĩnh vực này, ông Trần Quốc Toàn - Phó Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn TLC Việt Nam cho rằng, việc tập trung vào ngành CN CBCT có ý nghĩa then chốt vì đây là nền tảng để Việt Nam nâng cao giá trị gia tăng, giúp các DN giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đặc biệt trong bối cảnh vĩ mô đang rất căng thẳng và khó lường như hiện tại, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Với DN Việt, đó là con đường để phát triển bền vững thay vì chỉ gia công, hay lắp ráp hoàn thiện các khâu đơn thuần.

Để làm được điều này, theo ông Toàn, DN cần ưu tiên 3 chiến lược: Đầu tư vào công nghệ và tự động hóa để nâng cao năng suất và chất lượng; Làm chủ chuỗi cung ứng - từ thiết kế, sản xuất đến phân phối; Tập trung vào R&D (nghiên cứu và phát triển) và phát triển sản phẩm phù hợp với thị trường nội địa và xuất khẩu. Nếu đi đúng hướng, DN Việt hoàn toàn có thể chuyển từ sản xuất thuê sang làm chủ công nghệ và dẫn dắt cuộc chơi.

Ở góc độ một DN có hơn 26 năm trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử công nghệ cao cho các tập đoàn FDI hàng đầu thế giới, bà Trần Thị Thu Trang - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Điện tử Hanel PT nhìn nhận, ngành CN CBCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của DN và của nền kinh tế Việt Nam.

Theo bà Thu Trang, bản chất của ngành CBCT chính là sự kết tinh của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực R&D, đồng thời là khu vực nằm ở phần có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị sản phẩm. Việc ngành này chưa phát triển như kỳ vọng vừa phản ánh những hạn chế hiện tại, nhưng đồng thời cũng cho thấy dư địa và tiềm năng phát triển còn rất lớn của Việt Nam.

Để nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm CN mũi nhọn, Tổng Giám đốc Công ty Điện tử Hanel PT Trần Thị Thu Trang cho rằng, cần ưu tiên một số định hướng mang tính chiến lược. Trước hết là đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ sản xuất theo nhu cầu hiện tại sang chủ động đi trước nhu cầu thị trường, đầu tư cho nghiên cứu - phát triển và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, DN cần coi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không chỉ là xu hướng, mà là điều kiện bắt buộc để nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ số vào quản trị, sản xuất và thiết kế sản phẩm, cùng với tối ưu hóa năng lượng, giảm phát thải và phát triển bền vững sẽ giúp DN đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Doanh nghiệp “xoay trục” để thích ứng

Với định hướng phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng, bà Thu Trang cho hay, Hanel PT đã lựa chọn một hướng đi mang tính chiến lược, đó là phát triển các giải pháp công nghệ nhiệt lạnh ứng dụng trong CB và bảo quản nông sản.

Xuất phát từ một thực tế rất rõ: Việt Nam là quốc gia có thế mạnh lớn về nông nghiệp, nhưng chuỗi giá trị nông sản vẫn chưa tương xứng, đặc biệt ở khâu chế biến sau thu hoạch; Công nghệ CB còn hạn chế, dẫn đến giá trị gia tăng thấp và người nông dân chưa thực sự được hưởng lợi tương xứng với công sức bỏ ra, Hanel PT định hướng phát triển dòng sản phẩm Sasaki với mục tiêu giải quyết bài toán cốt lõi này - nâng cao giá trị nông sản Việt Nam thông qua công nghệ.

Về tiêu chí lựa chọn sản phẩm chiến lược, DN không chỉ nhìn vào thị trường hay lợi nhuận ngắn hạn, mà dựa trên một hệ tiêu chí xuyên suốt. Trước hết là khả năng tạo ra giá trị gia tăng thực chất, đặc biệt là nâng cao giá trị nông sản và chất lượng dinh dưỡng. Thứ hai, là tính ứng dụng công nghệ cao, có khả năng tích hợp các yếu tố chuyển đổi số, tự động hóa và tối ưu năng lượng. Thứ ba là tác động xã hội và môi trường, tức là sản phẩm không chỉ mang lại lợi ích cho DN, mà còn góp phần vào phát triển bền vững. Và cuối cùng, tất cả đều xoay quanh một triết lý mà DN theo đuổi, đó là “ngũ phương hưởng lợi”: Người sản xuất được nâng cao giá trị; Người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm chất lượng, an toàn; Môi trường được bảo vệ; Đối tác và hệ sinh thái cùng phát triển; Và DN phát triển bền vững.

Với kinh nghiệm của mình, Tổng Giám đốc Tập đoàn TLC Việt Nam Trần Quốc Toàn khuyến nghị, để phát triển các sản phẩm CN mũi nhọn, DN cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp: Thứ nhất, về công nghệ: Đẩy mạnh tự động hóa, số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị để nâng cao hiệu suất, chất lượng và giảm chi phí; Thứ hai, về nguồn nhân lực: Tập trung xây dựng đội ngũ R&D có năng lực thực tế, gắn đào tạo với nhu cầu thực tế; Thứ ba, về chuỗi cung ứng: Chủ động nguồn cung, từng bước nội địa hóa các linh kiện quan trọng để giảm phụ thuộc và tăng tính ổn định; Thứ tư, về liên kết thị trường: Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các DN với nhau, từ đó tạo thành 1 hệ sinh thái sản xuất, hệ sinh thái thương mại để tạo thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh và mở rộng đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ.

Đ.Trang - V.Hương

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/cong-nghiep-che-bien-che-tao-tim-duong-di-qua-san-pham-mui-nhon.html