Công nghiệp văn hóa: Biến tài nguyên thành nguồn lực tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Song phát triển công nghiệp văn hóa cũng đang đứng trước 'bốn khoảng trống' cần sớm tìm ra giải pháp để biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế.

Xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế (Ảnh: VGP)

Xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế (Ảnh: VGP)

Động lực tăng trưởng mới

Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng cho biết, thời gian qua, công nghiệp văn hóa đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Hiện nay, sáu lĩnh vực trọng điểm gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, quảng cáo và thủ công mỹ nghệ - làng nghề đang tạo hơn 70% doanh thu của toàn ngành công nghiệp văn hóa. Giai đoạn 2018-2019, giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp trên 6% GDP, sau đó giảm mạnh do tác động của đại dịch COVID-19. Từ năm 2022 đến nay, lĩnh vực này đã phục hồi tích cực, ước đóng góp khoảng 4,8-5,2% GDP trong giai đoạn 2024-2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân 7-8%/năm.

Trong đó, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước phát triển mạnh với thị phần phim Việt đạt khoảng 62% trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu vượt 1.700 tỷ đồng. Nghệ thuật biểu diễn phát triển nhiều chương trình quy mô lớn, tạo sức lan tỏa sang du lịch và tiêu dùng. Ngành game tiếp tục giữ lợi thế về nhân lực và gia công đồ họa, quy mô thị trường khoảng 17.000 tỷ đồng. Du lịch văn hóa phát triển các sản phẩm kinh tế đêm, tour di sản, chương trình biểu diễn thực cảnh; quảng cáo chuyển dịch mạnh sang môi trường số; thủ công mỹ nghệ tiếp tục duy trì giá trị xuất khẩu và tạo việc làm cho hệ thống làng nghề.

Với nền tảng vững chắc này, Báo cáo về kịch bản phát triển công nghiệp văn hóa gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số nhận định giai đoạn 2026-2030, công nghiệp văn hóa thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh nhờ quá trình số hóa, phát triển kinh tế dựa trên tài sản trí tuệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, AR/VR và khai thác tài sản trí tuệ trên nhiều nền tảng. Đây là cơ hội để Việt Nam xây dựng kịch bản tăng trưởng hai con số nếu có chính sách đồng bộ về thể chế, hạ tầng, nguồn vốn, nhân lực và công nghệ.

Xóa bỏ những "điểm nghẽn" căn cốt

Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế. Khung pháp lý về tài sản trí tuệ số, tài sản số, cơ chế thử nghiệm (sandbox), định giá và thế chấp tài sản trí tuệ chưa hoàn thiện; hạ tầng sáng tạo như phim trường, trung tâm biểu diễn, hậu kỳ, kỹ xảo còn thiếu; dòng tiền từ quảng cáo số và game còn phụ thuộc lớn vào các nền tảng nước ngoài; cơ chế hợp tác công - tư và khai thác tài sản công chưa phát huy hiệu quả; thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa còn thiếu sức cạnh tranh quốc tế.

Đặc biệt, trong bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam diễn ra vừa qua đã chỉ rõ "bốn khoảng trống" cần sớm được nhận diện và khắc phục trong phát triển công nghiệp văn hóa. Theo bà Trần Thị Thu Đông, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam cho rằng, những khoảng trống này đã "chạm" trúng những điểm nghẽn căn cốt nhất của thực tiễn phát triển công nghệ

Đó là sức hấp dẫn, lan tỏa của giá trị văn hóa dân tộc trên không gian số còn chưa theo kịp tốc độ của các nền tảng, nội dung số. Dù sở hữu kho tàng đồ sộ - hơn 40.000 di tích, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, 38 di sản được UNESCO ghi danh nhưng phần lớn chưa được số hóa, chuẩn hóa, chưa chuyển hóa thành dữ liệu, tri thức số và tài sản trí tuệ. Năng lực sáng tạo những sản phẩm văn hóa đủ sức cạnh tranh, trở thành biểu tượng quốc gia còn hạn chế. Và đó là sự thiếu đồng bộ của thể chế, hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, khi ngành này mới đóng góp khoảng 4% GDP so với mục tiêu 7% vào năm 2030.

Để khắc phục những khoảng trống và bứt phá trong thời gian tới, ông Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó viện trưởng Viện Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu Khoa học, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng, văn hóa phải hiện diện đồng bộ trong các quyết sách về kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, quy hoạch đô thị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chứ không chỉ là trách nhiệm riêng của ngành văn hóa. Bên cạnh đó, muốn văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và hệ sinh thái phát triển phù hợp, để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành dữ liệu, tri thức, tác phẩm, sản phẩm, thị trường và những giá trị được công chúng tự nguyện tiếp nhận.

Chia sẻ tại họp báo thường kỳ quý II/2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch diễn ra ngày 15/7, ông Cao Lê Tuấn Anh, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ VHTTDL cho biết, Bộ VHTTDL đã chủ động triển khai nhiều nhiệm vụ, đặc biệt là khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra bốn "khoảng trống" trong phát triển công nghiệp văn hóa. Về thể chế, bên cạnh Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị và các chính sách đã được ban hành, Bộ đang tham mưu xây dựng hệ sinh thái pháp luật phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có các dự án luật về công nghiệp văn hóa, quyền tác giả, nghệ thuật biểu diễn, văn học cùng các văn bản liên quan, tạo nền tảng pháp lý để thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh của ngành. Để hình thành các sản phẩm văn hóa có thương hiệu quốc gia và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần xây dựng hành lang pháp lý khuyến khích sáng tạo, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, các chủ thể sáng tạo và truyền thông.

Để công nghiệp văn hóa đóng góp nhiều hơn vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ An Phong cho rằng, cần xác định rõ các lĩnh vực trọng điểm, sản phẩm chủ lực, thị trường và nguồn lực đầu tư; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp. Bên cạnh việc thống kê đầy đủ các lĩnh vực của công nghiệp văn hóa, cần ưu tiên những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao để tập trung phát triển. Tiếp tục hoàn thiện kịch bản theo hướng cụ thể, gắn với dữ liệu, các chỉ số đo lường và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, điều hành, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa.

Đối với kịch bản phát triển công nghiệp văn hóa một chuyên gia lưu ý, kịch bản phải lượng hóa rõ các nguồn lực đầu tư, bao gồm ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, người dân và nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI), làm cơ sở bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá việc huy động và sử dụng nguồn lực, gắn với mục tiêu thu hút đầu tư và phân công trách nhiệm cụ thể giữa các cơ quan, đơn vị. kịch bản phải dựa trên phân tích thị trường, nhu cầu trong nước và quốc tế, nguồn lực đầu tư, đồng thời tính toán phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước để phản ánh đúng mức đóng góp của ngành vào GDP. Các chỉ tiêu cần thống nhất, ưu tiên sử dụng chỉ số giá trị gia tăng thay vì chỉ dựa trên doanh thu. Bên cạnh đó, cần xác định rõ các sản phẩm, tài sản trí tuệ trọng điểm và tăng cường liên kết giữa các lĩnh vực công nghiệp văn hóa nhằm tạo ra các sản phẩm phái sinh, nâng cao giá trị gia tăng.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/cong-nghiep-van-hoa-bien-tai-nguyen-thanh-nguon-luc-tang-truong-184958.html