Công tác đối ngoại Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam
Hoạt động thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc tế Cộng sản và Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế theo tinh thần 'giúp bạn là giúp chính mình' là nền móng và kim chỉ nam cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta, Nhà nước ta trong hơn 9 thập kỷ qua.
Đảng ta là một đảng cộng sản, có nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Marx-Lenin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, giữ vai trò là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho nhận thức và hành động của các đảng cộng sản và công nhân, trong đó bao trùm nhất là học thuyết cách mạng về giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xóa bỏ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc với một số đại biểu dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản tại Nga, năm 1924. (Nguồn: TTXVN)
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về con đường phát triển của Dân tộc và Con người Việt Nam, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đúc rút từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Người trong Quốc tế Cộng sản những thập niên đầu thế kỷ XX và từ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin của Người và Đảng ta vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam những năm 30 và các thập kỷ tiếp theo, với nhận thức cốt lõi là con đường tất yếu để giải phóng dân tộc và đất nước khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là làm cách mạng giải phóng dân tộc, gắn cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam với đấu tranh giải phóng giai cấp, vì hòa bình, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội trên thế giới; về tiến trình tất yếu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản là từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội; coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; coi trọng đồng thời nhiệm vụ lãnh đạo thắng lợi cách mạng Việt Nam với nghĩa vụ tích cực thực hiện đoàn kết quốc tế.
Đoàn kết quốc tế, một nội hàm của đối ngoại Đảng
Hoạt động thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc tế Cộng sản và Tư tưởng của Người - Chủ tịch Hồ Chí Minh - về giải phóng dân tộc đi liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc đi liền với chủ nghĩa xã hội; đoàn kết quốc tế theo tinh thần “giúp bạn là giúp chính mình” là nền móng và kim chỉ nam cho việc xây dựng, hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta, Nhà nước ta trong hơn 9 thập kỷ qua.
Ngay sau khi thành lập, Đảng ta, mà trực tiếp là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã giữ quan hệ thường xuyên với Quốc tế Cộng sản, với các đảng cộng sản Liên Xô, Trung Quốc, Pháp và nhiều đảng cộng sản khác. Nhờ vậy, trong 15 năm đầu từ khi thành lập đảng, cách mạng Việt Nam đã không đơn độc và khi thời cơ đến, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH); là sự khẳng định thắng lợi của tư tưởng độc lập, tự chủ, tự cường và sáng tạo của một đảng cách mạng non trẻ.
Năm 1949, trong điều kiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam, Lào, Campuchia đã thu được những thắng lợi quan trọng, Đảng ta chuẩn bị ra công khai, các tổ chức đảng cộng sản ở Lào, Campuchia chuẩn bị thành lập, xuất phát từ yêu cầu đoàn kết, thúc đẩy, chỉ đạo thống nhất hoạt động của cách mạng ở ba nước trong điều kiện Đảng Cộng sản Đông Dương đã giải tán, ba nước có ba đảng cộng sản riêng, Trung ương Đảng ta đặt vấn đề phải tổ chức một bộ máy chuyên trách giúp Trung ương nghiên cứu, tổng hợp tình hình, làm tham mưu và tổ chức thực hiện công tác đối ngoại đảng, đặc biệt là sự hợp tác, giúp đỡ giữa Việt Nam, Lào và Campuchia.

Đoàn đại biểu Issarak Campuchia dự Hội nghị Liên minh Việt - Miên - Lào năm 1953 chụp ảnh với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Bắc. (Ảnh tư liệu)
Ngày 1/11/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra nghị quyết thành lập Ban Công tác Miên-Lào trực thuộc Ban Thường vụ Trung ương, tiền thân của Ban Đối ngoại Trung ương sau này. Ngoài chức năng, nhiệm vụ hợp tác, giúp đỡ giữa Ta với Lào và Campuchia, Ban còn được bổ sung nhiệm vụ làm công tác đối ngoại chung của Đảng. Năm 1953, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Trưởng ban đầu tiên Ban Công tác Miên-Lào, thay mặt Trung ương Đảng và Quân đội ta thiết lập nên Liên minh đoàn kết, chiến đấu Việt-Lào, phối hợp với Bạn mở mặt trận Thượng Lào, giúp Bạn mở rộng vùng giải phóng, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, kéo một bộ phận quan trọng quân Pháp đồn trú ở Điện Biên Phủ về mặt trận Thượng Lào, giảm đáng kể áp lực và thương vong cho quân đội ta khi tiến đánh Điện Biên Phủ.
Sau 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng và nhân dân ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quan hệ quốc tế của Đảng ngày càng mở rộng. Đảng trực tiếp hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác đối ngoại với 3 bộ phận hợp thành là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân. Ban Công tác Miên-Lào được kiện toàn, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, đổi tên thành Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương tháng 5/1958, tiếp đó tháng 3/1960, thành Ban Công tác Đối ngoại Trung ương và sau đó là Ban Đối ngoại Trung ương. Về tổ chức, từ 1978, khi Ban Quốc tế Nhân dân giải thể, chuyển chức năng, nhiệm vụ và cán bộ về Ban Đối ngoại Trung ương, công tác đối ngoại nhân dân thuộc chức năng, nhiệm vụ trực tiếp của Ban Đối ngoại Trung ương; một bộ phận sau đó tách ra chuyên trách công tác hữu nghị nhân dân mang tên Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (LHHNVN), đặt dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp về chuyên môn của Ban Đối ngoại Trung ương.
Trải qua 76 năm tồn tại và phát triển, trong điều kiện công tác có những đặc điểm, nhiệm vụ riêng, chức năng, nhiệm vụ qua mỗi thời kỳ một nặng nề hơn, cơ quan chuyên trách đối ngoại đảng của Đảng ta từng bước trưởng thành. Các thế hệ cán bộ của Ban đã luôn thấm nhuần và kiên định đường lối, quan điểm của Đảng trong công tác đối ngoại; lực lượng mỏng nhưng biết tập trung sức lực, trí tuệ tham gia và có những đóng góp hiệu quả cho công tác tham mưu, tổ chức các hoạt động đối ngoại và cơ mật về đoàn kết quốc tế của Đảng, trực tiếp tham gia chỉ đạo và hướng dẫn công tác đối ngoại nhân dân; biên soạn, soạn thảo hoặc tham gia biên tập, soạn thảo những văn kiện về đối ngoại có ý nghĩa quan trọng, mang tính bước ngoặt phục vụ Trung ương và Bộ Chính trị hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại mà đặc biệt là thời kỳ Đổi mới. Trong thành tựu chung của công tác đối ngoại thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đều có sự đóng góp bền bỉ, có hiệu quả của ba lực lượng làm công tác đối ngoại trong đó có cơ quan chuyên trách công tác đối ngoại Đảng là Ban Đối ngoại Trung ương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam hội đàm với Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô, do Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Alexander Nikolayevich Shelepin dẫn đầu sang thăm Việt Nam, ngày 8/1/1966, tại Hà Nội.
Có thể nêu dưới đây những đóng góp chính của Ban: (i) Giai đoạn Ban Công tác Miên-Lào, đã góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và không ngừng vun đắp, tăng cường mối quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba nước và ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, cùng nhau đánh thắng chiến tranh xâm lược Pháp, tạo tiền đề vững chắc bảo vệ và không ngừng tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào-Campuchia trong chiến tranh chống xâm lược Mỹ. (ii) Giai đoạn sau 1954, thực hiện đường lối quốc tế của Đảng ta, Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Ngoại giao đã phối hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp và thế mạnh của từng cơ quan thực hiện với hiệu quả cao đường lối đối ngoại chung; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế đối với việc thực hiện hai mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam giai đoạn đó. (iii) Những năm 50-60-70 thế kỷ trước, cách mạng Việt Nam đứng trước những thử thách ngặt nghèo: mâu thuẫn gay gắt về quan điểm, tư tưởng và đường lối giữa hai nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc làm suy yếu nghiêm trọng tính đoàn kết, thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế; nội bộ khối xã hội chủ nghĩa chia rẽ, bè phái; cách mạng thế giới mất phương hướng, đi vào thoái trào; tác động bất lợi to lớn đến tiến trình cách mạng Việt Nam khi Ta vừa đánh thắng chiến tranh xâm lược Pháp, giải phóng một nửa đất nước, lại bước ngay vào cuộc chiến tranh mới với tương quan lực lượng rất bất lợi cho ta chống siêu cường số một thế giới là đế quốc Mỹ.
Trong bối cảnh khó khăn, thách thức chồng chất đó, Đảng ta một mặt tập trung vào bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ sự đoàn kết trong khối xã hội chủ nghĩa, tranh thủ sự ủng hộ, đoàn kết quốc tế của các lực lượng yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới mà nhờ đó, vẫn chủ động tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cánh tả, tiến bộ trên thế giới, tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn chưa từng có với đặc điểm nổi bật là phong trào được hình thành và phát triển mạnh mẽ ngay trong lòng nước Mỹ và những nước cùng với Mỹ đưa quân tham chiến xâm lược Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đây là thời kỳ nhiều cán bộ Ban Đối ngoại Trung ương có điều kiện trực tiếp công tác trên cả 3 kênh của mặt trận đối ngoại, tiêu biểu là Trưởng ban, Bộ trưởng Xuân Thủy, Trưởng Phái đoàn Chính phủ VNDCCH và một số cán bộ giúp việc của Ban tại cuộc đàm phán 4 bên kéo dài gần 5 năm dẫn đến ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tháng giêng 1973; những cán bộ của Ban, khi còn công tác tại Ban Quốc tế Nhân dân, từng trực tiếp sống trong lòng phong trào nhân dân Mỹ, những đồng chí khoác áo phóng viên Thông tấn xã Giải phóng nhiều năm sát cánh với các phong trào hòa bình ở Tây-Bắc-Nam Âu đoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược Mỹ; và từ sau 1975 tới những năm đầu thế kỷ XXI là những cán bộ của Ban là thành viên lãnh đạo các tổ chức, với các tên gọi khi đó, là Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy ban Đoàn kết Nhân dân Á - Phi của Việt Nam, Quỹ Hòa bình và Phát triển của Việt Nam với Chủ tịch Quỹ lâu niên nhất, nguyên Phó Chủ tịch nước, Anh hùng Lao động, nguyên Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Nguyễn Thị Bình.

Đồng chí Xuân Thủy, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Đảng (Ban Đối ngoại Trung ương) tiếp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Canada William Kashtan thăm hữu nghị Việt Nam, ngày 3/8/1978.
Với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, các thập kỷ 50-60-70 thế kỷ trước cũng là thời kỳ chủ nghĩa quốc tế vô sản từng bước biến đổi cả về hình thức và nội dung: nội hàm của chủ nghĩa quốc tế vô sản từ chỗ là sự liên minh giữa công nhân các nước chuyển thành mối quan hệ chủ yếu giữa các nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới tên gọi chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa; tinh thần quốc tế vô sản thời Lê nin chuyển hóa thành hợp tác chính trị, chung sống hòa bình giữa các chế độ chính trị - xã hội khác nhau; đoàn kết quốc tế giai cấp công nhân nửa đầu thế kỷ XX chuyển thành liên minh giữa các lực lượng dân chủ, tiến bộ; là thời kỳ Đảng ta cùng nhiều đảng cộng sản, công nhân xác định nhiệm vụ đoàn kết quốc tế của Đảng Cộng sản nay mang nội hàm mới là đoàn kết, liên minh với các lực lượng các mạng, dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình. Trong bối cảnh mặt trận thống nhất của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế tan rã, dưới tác động của chiến tranh chống xâm lược Mỹ của nhân dân Việt Nam, phong trào cách mạng thế giới từng bước mở rộng ra ngoài phạm vi công nhân, gắn với các phong trào chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ môi trường, chống phân biệt chủng tộc, giải phóng phụ nữ,...
Trong bối cảnh đó, hoạt động đối ngoại của Việt Nam thời kỳ này là hình ảnh đầy tính thuyết phục về thắng lợi của tư tưởng chỉ đạo của Đảng là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta, tạo động lực cho quân và dân ta giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi trọn vẹn, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Triển khai các nhiệm vụ chiến lược sau 1975
Sau 1975, cách mạng Việt Nam chuyển giai đoạn với 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong điều kiện đất nước vừa chống bao vây, cấm vận do Mỹ áp đặt, vừa khắc phục khủng hoảng kinh tế-xã hội, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta có bước chuyển mạnh mẽ, chuyển trọng tâm sang đấu tranh chống, phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường khu vực và quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Ban Đối ngoại Trung ương đã chủ trì, cùng với Bộ Ngoại giao, các cơ quan tham mưu về đối ngoại của An ninh, Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan đề xuất, tham mưu, hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới, được Trung ương đánh giá cao, trở thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, từ Việt Nam “muốn" trước đó, chuyển thành Việt Nam “sẵn sàng" là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Mọi hoạt động của ba kênh đối ngoại đều tập trung vào thực hiện có kết quả nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu văn hóa với thế giới, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đây là thời kỳ Ban Đối ngoại Trung ương từng bước thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ là “cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương, mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực đối ngoại; đồng thời là cơ quan thực hiện quan hệ đối ngoại của Đảng”; tổ chức nghiên cứu, phân tích, dự báo tình hình quốc tế để đề xuất kịp thời những chính sách đối ngoại của ta, cụ thể hóa đường lối của Đảng về đối ngoại, tổ chức thực hiện các quan hệ của Đảng ta với các chính đảng trên thế giới mà Đảng ta có quan hệ, thực hiện một số nhiệm vụ cơ mật liên quan đến công tác đoàn kết quốc tế của Đảng ta do Bộ Chính trị, mà trực tiếp là Thường trực Ban Bí thư giao phó; có những đóng góp quan trọng vào việc tiếp tục củng cố và tăng cường quan hệ của Đảng ta với các đảng cầm quyền các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ nhân dân, các đảng cộng sản và công nhân, phong trào cánh tả, tiến bộ trên thế giới; “phối hợp chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động đối ngoại của các tổ chức nhân dân, tham gia chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại” theo chức năng, nhiệm vụ được bổ sung.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ban Đối ngoại Trung ương. (Nguồn: TTXVN)
Thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới
Bước vào thời kỳ Đổi mới, Đảng ta đã vững vàng đưa đất nước vượt qua những tình huống hiểm nghèo và những thách thức gay gắt sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã. Công tác đối ngoại nói chung đã giành được những thành tựu mới quan trọng. Thực hiện đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới, công tác đối ngoại Đảng đã góp phần phá vỡ thế bao vây, cấm vận của Mỹ, góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, tiếp tục tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, duy trì và phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ.
Tại thời điểm này, Ban Đối ngoại Trung ương đã kiến nghị bước đột phá mới, được Trung ương nhất trí, là Đảng ta chủ động từng bước thiết lập quan hệ có chọn lọc với một số chính đảng và đảng cầm quyền, bắt đầu từ các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á, trên cơ sở các nguyên tắc độc lập, tự chủ, không can thiệp công việc nội bộ nhau, bình đẳng, hữu nghị nhằm tăng cường sự hiểu biết, tin cậy, góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Nhà nước và nhân dân ta với Nhà nước và nhân dân các nước, vì hòa bình, độc lập và phát triển. Công tác đối ngoại Đảng thời kỳ này cũng đặc biệt coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với ba nước láng giềng có chung biên giới, các nước trong khu vực Đông Nam Á; góp phần thúc đẩy quan hệ nhà nước với hầu hết các nước trên thế giới, với các tổ chức, trung tâm chính trị, kinh tế, tài chính quốc tế, tạo nên bước phát triển mới trong quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, từng bước làm phá sản chính sách cô lập, bao vây, cấm vận của Mỹ chống Việt Nam.
Một công tác nổi bật khác của Ban cuối thập kỷ 80, được tiếp tục phát huy trong các thập niên tiếp theo là phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức nhiều hoạt động đối ngoại để trao đổi kinh nghiệm, đào tạo cán bộ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau giữa Đảng ta với các đảng, các phong trào theo yêu cầu của bạn; qua đó, đã phối hợp đón hàng trăm đoàn với hàng nghìn lượt người, chủ yếu đến từ các khu vực Mỹ Latinh, vùng Sừng châu Phi, vào Việt Nam nghiên cứu tình hình, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm làm cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam. Đây còn là thời kỳ Ban Đối ngoại Trung ương đã có những đóng góp to lớn vào quá trình đào tạo, chuẩn bị lớp cán bộ khung ở Trung ương cho bộ máy chính quyền mới ở Campuchia sau khi Ta giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng; hỗ trợ hoạt động đối ngoại của bạn tại các diễn đàn quốc tế trong điều kiện Chính phủ Campuchia Dân chủ đã không còn tồn tại nhưng vẫn đang có tư cách là đại diện cho Campuchia tại Liên hợp quốc; chủ trì cùng các cơ quan liên quan tổ chức thành công Tòa án Quốc tế xét xử tội ác diệt chủng của chế độ Kmer Đỏ và trách nhiệm cá nhân của ba thủ lĩnh Polpot, Iengsary, Khieusamphon.
Đây cũng là thời kỳ Ban Đối ngoại Trung ương phát huy vai trò làm tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp của ta củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với 3 nước láng giềng có chung biên giới, với các nước trong khu vực, các nước lớn với kết quả nổi bật là đã tham mưu cho Trung ương về nội hàm và trực tiếp định hình nội dung các mối quan hệ "hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện" với Lào, quan hệ "ổn định lâu dài, toàn diện" với Campuchia, quan hệ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" với Trung Quốc. Việc tăng cường tin cậy lẫn nhau với Trung Quốc, đã góp phần chuẩn bị nhiều quyết định của Đảng ta về công tác đối ngoại, đặc biệt là việc xây dựng Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VII tháng 6 năm 1992 về đối ngoại - Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng và căn bản về tư duy đối ngoại của Đảng ta thời kỳ Đổi mới, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chỉ đạo tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ thập kỷ 90 thế kỷ trước đến lúc này.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đại biểu dự Kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ban Đối ngoại Trung ương (1/11/1949-1/11/2024), ngày 28/10/2024.
Về tầm quan trọng, Nghị quyết xác định những tư duy mới mang tính bước ngoặt trong lĩnh vực Đối ngoại với các nội hàm xác định tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại và nhiệm vụ bao trùm của công tác đối ngoại thời kỳ Đổi mới; xác định nội hàm và tác động qua lại giữa các cặp quan hệ như : giữa độc lập, tự chủ, tự lực tự cường và đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; giữa hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; giữa lợi ích trùng hợp và lợi ích khác nhau; xác định lợi ích cao nhất, thiêng liêng nhất của dân tộc ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khẳng định: việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chắc chắn sẽ là đóng góp to lớn của Đảng ta, Nhân dân ta cho nhân loại tiến bộ.
Trong vòng hai thập kỷ, việc Đảng và Nhà nước ta triển khai đồng bộ, nhất quán đường lối đối ngoại có nguyên tắc trong Đổi mới đã mang lại những kết quả có tầm quan trọng đặc biệt, tạo bước đột phá lịch sử trong nhiệm vụ kiến tạo môi trường khu vực và quốc tế ổn định, thân thiện để tập trung sức cho xây dựng, hội nhập và phát triển đất nước. Những giải pháp chính trị - đối ngoại đồng bộ như rút quân Việt Nam khỏi Campuchia (1989); không gia hạn và không cho Nga thuê lại căn cứ Cam Ranh sau khi Hiệp định ký năm 1979 giữa Ta và Liên Xô về việc sử dụng cảng Cam Ranh hết hiệu lực - thông điệp gửi tới thế giới về chủ trương độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại quốc phòng thời kỳ Đổi mới của Việt Nam; những nỗ lực chính trị-đối ngoại nhằm vượt qua quá khứ không thân thiện trong quan hệ Việt Nam-SEATO thời chiến tranh, coi trọng vị trí, vai trò của ASEAN, ... là những bước đi quan trọng dẫn tới việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc (1991), thiết lập quan hệ Ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ (1995), bình thường hóa quan hệ của Ta với các thể chế tài chính, tiền tệ khu vực và quốc tế ADB, WB, IMF, mở đầu cho quá trình hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam: gia nhập ASEAN (1995), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN AFTA (1996), tham gia thành lập Hội nghị Thượng đỉnh Á-Âu ASEM (1996), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương APEC (1998), Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (2007)..., đánh dấu sự khẳng định và bước phát triển mới quan trọng về vai trò, vị thế quốc tế của Việt Nam trong đời sống khu vực và quốc tế.
Một công tác có hiệu quả cao của Ban Đối ngoại Trung ương giai đoạn này là sử dụng kênh liên lạc Đảng xử lý và giải quyết thành công nhiều vấn đề nhạy cảm, nhiều tình huống phức tạp mà việc đàm phán, giải quyết qua kênh Ngoại giao gặp bế tắc trong quan hệ của ta với ba nước láng giềng có chung biên giới, chủ yếu là với Trung Quốc, trên các vấn đề liên quan đến biên giới, lãnh thổ, quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, các tranh chấp phức tạp trên Biển Đông. Ban cũng tổ chức thành công nhiều chuyến thăm chính thức nước ngoài của các Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị và nhiều đoàn của Đảng ra công tác nước ngoài; đón nhiều đoàn cấp cao các đảng anh em vào thăm, vào dự các Đại hội của Đảng ta; thực hiện tốt nhiệm vụ giúp Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức hòa bình, hữu nghị, các tổ chức phi chính phủ; phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện chức năng bổ sung của Ban là làm tốt công tác xây dựng Đảng và công tác xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại trong Khối các Cơ quan Đối ngoại Trung ương.

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung phát biểu tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ban Đối ngoại Trung ương, ngày 28/10/2024.
Nhiều đồng chí Phó Trưởng Ban là thành viên lãnh đạo kiêm nhiệm Liên hiệp Hội hữu nghị Việt Nam (LHHNVN); nhiều đồng chí nguyên Lãnh đạo Ban, nguyên Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng sau khi nghỉ hưu vẫn tiếp tục đóng góp kinh nghiệm, tâm huyết, công sức cho công tác đối ngoại Nhân dân trên các cương vị Chủ tịch, Phó Chủ tịch nhiều hội hữu nghị lớn thành viên của Liên hiệp như các Hội Việt-Pháp, Việt-Mỹ, Việt-Trung, Việt-Lào, Việt-Xô (khi đó), Việt Nam-Campuchia, Việt Nam-Thái Lan ...; là thành viên lãnh đạo một số trung tâm nghiên cứu chiến lược và dự báo tình hình chính trị-đối ngoại của Bộ Ngoại giao, các cơ quan chính trị-đối ngoại khối An ninh, quốc phòng.
Các thế hệ cán bộ, nhân viên Ban Đối ngoại Trung ương, bằng sự phấn đấu tâm huyết và đầy trách nhiệm, sự cẩn trọng và chu đáo theo tinh thần “trong công tác đối ngoại, không có việc gì là nhỏ”, đã xây dựng nên truyền thống tốt đẹp, được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định tại Lễ trao tặng Huân chương Sao Vàng-Huân chương cao quý nhất của Việt Nam-cho Ban Đối ngoại Trung ương ngày 1/7/2003 nhân kỷ niệm 54 năm ngày thành lập Ban là: "Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, tận tụy, sáng tạo, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng cao cả của Đảng và Dân tộc".
Điều chỉnh chiến lược trong tư duy và thực tiễn đối ngoại
Hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự chuyển dịch sâu sắc của trật tự thế giới. Trật tự đơn cực do Mỹ chi phối sau Chiến tranh lạnh từng bước nhường chỗ cho xu thế đa cực, đa trung tâm, với sự trỗi dậy nhanh chóng của các cường quốc mới, đặc biệt Trung Quốc, Ấn Độ, cùng sự phục hồi vai trò của Nga. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, vừa hợp tác vừa đối đầu, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, quân sự và an ninh phi truyền thống.
Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển nhưng bộc lộ nhiều mâu thuẫn, kéo theo chủ nghĩa bảo hộ, cạnh tranh địa-kinh tế, phân tách chuỗi cung ứng. Các thách thức an ninh phi truyền thống như khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng nổi lên ngày càng rõ nét. Ở Châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là Biển Đông, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng, tác động trực tiếp tới môi trường an ninh và phát triển của nước ta.
Trước bối cảnh đó, Việt Nam đã có những điều chỉnh mang tính chiến lược trong tư duy và thực tiễn đối ngoại. Đường lối đối ngoại thời kỳ Đổi mới được kiên định và cụ thể hóa sâu sắc; chuyển mạnh từ thế “ thích ứng” sang chủ động định vị mình là “đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, từ “mở cửa, hội nhập” sang chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, tham gia sâu vào các thể chế khu vực và toàn cầu, ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, gắn kết lợi ích quốc gia với lợi ích chung, tạo đan xen lợi ích với các đối tác; thực thi đường lối đối ngoại quốc phòng “4 không”, tham gia Lực lượng giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động cứu nạn, cứu hộ quốc tế; đóng góp đầy trách nhiệm và mang tính xây dựng vào hòa bình, hợp tác, không ngừng nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Công tác đối ngoại được nâng tầm, đạt kết quả nổi bật, từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20); có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực; đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương, được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác thêm nhiều trọng trách trong các cơ chế đa phương, nhất là trong ASEAN và tại Liên hợp quốc. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Các tổ chức, đoàn thể nhân dân có quan hệ đối ngoại thiết thực với 1200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Ba kênh đối ngoại chuyên ngành cùng với đối ngoại Quốc phòng, An ninh có đóng góp quan trọng tăng cường bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; góp phần bảo đảm kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong thành quả chung quan trọng đó, công tác Đối ngoại Đảng với bề dầy 76 năm và những đặc điểm công tác, nhiệm vụ rất riêng qua mỗi thời kỳ đã đóng góp hiệu quả, thiết thực góp phần làm nên những thành quả chung to lớn của mặt trận Đối ngoại; góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng ta, Nhân dân ta cũng như vào quá trình tạo lập, xây dựng để đất nước ta, dân tộc ta có cơ đồ, vị thế quốc tế và tiền đồ sáng lạn ngày hôm nay.

Ban Đối ngoại Trung ương tổ chức Hội nghị phổ biến hướng dẫn thực hiện Đề án về quan hệ đối ngoại Đảng và Chỉ thị 12 về đối ngoại nhân dân sáng 24/12/2023 tại Hà Nội.
Với quyết định của Bộ Chính trị Khóa XIII ngày 24/1/2025, Ban Đối ngoại Trung ương kết thúc hoạt động, chuyển chức năng, nhiệm vụ và cán bộ về Bộ Ngoại giao, đánh dấu sự kết thúc hoạt động của cơ quan Trung ương chuyên trách công tác đối ngoại Đảng. Kể từ đây, sự nghiệp đoàn kết quốc tế của Đảng với nội hàm, hình thức và phương thức hoạt động đã có nhiều chuyển dịch sâu sắc thích ứng với sự biến đổi to lớn của điều kiện quốc tế, khu vực và vị thế quốc tế ngày một đi lên của đất nước từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, thuộc chức năng, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, quan trọng, toàn diện của Bộ Ngoại giao khi từ thế kiềng ba chân, công tác đối ngoại từ nay tập trung về một đầu mối duy nhất. Truyền thống 76 năm Ban Đối ngoại Trung ương từ nay hòa vào dòng chảy chung của Truyền thống 80 năm của Ngoại giao Việt Nam. Lớp cán bộ thuộc các thế hệ trước của Ban có niềm tin mạnh mẽ rằng những cán bộ, viên chức của Ban sau sáp nhập nay nhanh chóng hòa mình vào đội ngũ Ngoại giao sẵn có của Bộ, tiếp bước các thế hệ đi trước phát huy truyền thống, bản lĩnh Đối ngoại-Ngoại giao Việt Nam, viết tiếp trang sử hào hùng của Ngành, tiếp tục có đóng góp xứng đáng, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vào sự nghiệp xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và hùng cường, đóng góp tích cực, hiệu quả vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, độc lập và phát triển.












