Cửa biển - những dấu ấn văn hóa Hà Tĩnh

Có những nơi trên bản đồ không chỉ được xác định bằng tọa độ địa lý, mà còn được nhận diện bằng ký ức và tâm thức. Cửa biển, với người Hà Tĩnh, là một không gian như thế.

Cửa biển không phải là nơi có ranh giới đóng mở rõ ràng, mà là điểm chuyển tiếp của dòng chảy từ sông ra biển. Sau một hành trình dài qua làng mạc, ruộng đồng và bến bãi, các dòng sông Hà Tĩnh tìm đến biển lớn, mang theo phù sa, ký ức và những giá trị văn hóa đã được bồi đắp của đời sống cư dân ven sông. Chính ở khúc chuyển tiếp ấy, dấu ấn của con người và thiên nhiên cùng lắng lại, tạo nên không gian văn hóa đặc trưng của vùng cửa biển.

 Cửa Khẩu (phường Hải Ninh) - nơi con sông Vịnh vươn mình ra biển lớn.

Cửa Khẩu (phường Hải Ninh) - nơi con sông Vịnh vươn mình ra biển lớn.

Trên dải bờ biển của Hà Tĩnh, có rất nhiều cửa biển, ngày nay, qua những biến đổi địa chất chỉ còn 4 cửa là Cửa Khẩu, Cửa Nhượng, Cửa Sót, Cửa Hội. Các cửa biển này hiện diện như những khúc chuyển tiếp đặt biệt của tự nhiên. Ở đó, dòng sông khép lại hành trình của mình trước khi hòa vào biển cả, để lại những lớp phù sa và cả những lớp văn hóa đã được kiến tạo suốt dặm dài nó chảy qua. Cửa biển, vì thế, không đơn thuần là một khái niệm địa lý. Đó là nơi thiên nhiên dừng lại để chuyển mình, là nơi con người cùng lắng lại, tích lũy để hòa nhập và cùng tạo ra nhiều giá trị văn hóa đặc trưng.

Tại nơi sông gặp biển, hai nguồn nước ngọt và mặn va chạm, tách ra rồi hòa vào nhau theo nhịp thủy triều. Sự khác biệt về màu nước, về dòng chảy tạo nên một không gian sinh thái đặc thù, đồng thời cũng hình thành nên nếp sống riêng của cư dân vùng cửa biển. Sống ở vùng cửa biển, con người sớm quen đặt đời mình theo nhịp nước. Mọi việc lớn nhỏ, từ ra khơi, vào lộng đến sinh hoạt thường ngày, đều được tính bằng con triều. Sinh kế vì thế gắn chặt với nhịp triều lên xuống, còn tâm thức thì luôn hướng về những đổi thay khó lường của biển cả. Biển không cho con người sự êm đềm như sông, mà buộc họ học cách chấp nhận bất định, học cách chuẩn bị cho rủi ro và kiên nhẫn chờ đợi khi con nước chưa thuận.

 Sống ở vùng cửa biển, con người sớm quen đặt đời mình theo nhịp nước.

Sống ở vùng cửa biển, con người sớm quen đặt đời mình theo nhịp nước.

Chính trong trạng thái “lưng chừng” ấy, con người vùng cửa biển hình thành một cách sống rất riêng. Họ không tuyệt đối tin vào sức mình, nhưng cũng không phó mặc số phận. Mỗi chuyến ra khơi đều là một lần gửi gắm niềm tin vào thiên nhiên, vào kinh nghiệm cha ông và vào sự đùm bọc của cộng đồng.

Nhìn sâu vào lịch sử các cửa biển Hà Tĩnh, dễ nhận thấy đây cũng là nơi ký ức cộng đồng được tích tụ và trao truyền. Những câu chuyện về con nước dữ, về những mùa biển động hay những lần cá tôm đầy khoang không chỉ được kể để nhớ, mà để răn dạy con cháu cách sống cùng biển: biết nương theo tự nhiên, biết dè chừng trước sóng gió, và biết dựa vào nhau khi biến cố ập đến. Qua thời gian, những trải nghiệm ấy kết tinh thành một triết lý sống mộc mạc nhưng bền chặt của cư dân vùng cửa biển Hà Tĩnh: sống thuận theo tự nhiên, lấy nghĩa tình làm điểm tựa, lấy niềm tin làm hành trang.

Theo bà Phan Thư Hiền – nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tại Hà Tĩnh, điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng cửa biển vừa kiến tạo nên những hệ sinh thái riêng biệt, vừa nuôi dưỡng đời sống tín ngưỡng phong phú của cư dân ven biển. Chính vì vậy, ở các vùng cửa biển luôn có những sinh hoạt văn hóa tâm linh đặc trưng, trong đó niềm tin vào các vị thần biển, lòng biết ơn thể hiện trong các nghi lễ thờ phụng đã dần dần hình thành nên các lễ hội, nghi thức độc đáo".

Không chỉ mang dấu ấn của tự nhiên, các cửa biển Hà Tĩnh còn là nơi lịch sử lắng lại thành những trầm tích bền sâu. Trong chiều dài dựng nước và giữ nước, cửa biển từng là những vị trí chiến lược quan trọng, nơi tiếp giáp giữa đất liền và biển cả, nơi phải đối mặt trực tiếp với những biến động của thời cuộc. Cửa Khẩu (phường Hải Ninh) là một trong những cửa biển mang dấu ấn lịch sử rõ nét nhất. Từ xa xưa, đây đã là cửa sông, cửa bể quan trọng ở phía nam Đại Việt, giữ vai trò xung yếu trong việc bảo vệ vùng biên viễn. Trong những cuộc đối đầu với quân Cham pa vượt Hoành Sơn, Cửa Khẩu từng là điểm chặn giữ, là nơi in dấu những cuộc phòng thủ gian nan. Sang các thời Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, vùng cửa biển này tiếp tục là vị trí quân sự trọng yếu, gắn với nhiều biến động lịch sử của đất nước.

Nhưng lịch sử nơi cửa biển không chỉ hiện diện qua binh đao. Lịch sử còn được lắng giữ trong đời sống tâm linh của cư dân ven biển. Việc thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu hay các vị thần biển tại những ngôi đền trong vùng Cửa Khẩu không chỉ là sự tưởng niệm, tri ân mà còn là cách người dân gửi gắm niềm tin, tìm điểm tựa tinh thần giữa biển cả nhiều sóng gió.

Trước mỗi chuyến ra khơi, nén hương được thắp lên như một lời nhắc nhớ về sự che chở, về mối gắn bó giữa con người với tiền nhân và với biển. Ông Lê Bá Khang - Phó ban Lễ nghi Di tích đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu cho biết: "Từ hàng trăm năm nay, các thế hệ ngư dân vùng Cửa Khẩu đã quen với việc đến đền thắp hương trước chuyến đi biển. Qua năm tháng, những nghi thức ấy không còn đơn thuần là lễ nghi, mà trở thành nếp nghĩ, nếp sống. Đặc biệt, tín ngưỡng của một vùng cửa biển ngày càng lan tỏa, trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân nhiều vùng, nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Điều đó, giúp bản sắc văn hóa của vùng Cửa Khẩu được giữ gìn và phát huy giá trị trong đời sống".

 Tại Cửa Nhượng, không gian biển núi đan cài tạo nên không gian giàu trầm tích.

Tại Cửa Nhượng, không gian biển núi đan cài tạo nên không gian giàu trầm tích.

Nếu Cửa Khẩu in đậm dấu ấn lịch sử – tín ngưỡng thì trên dải cửa biển Hà Tĩnh, từ Cửa Nhượng, Cửa Sót đến Cửa Hội, thiên nhiên, lịch sử và đời sống văn hóa cũng đan cài, tạo nên những không gian cửa biển giàu trầm tích. Cảnh quan núi, biển hài hòa, nhiều địa danh như núi Thiên Cầm, chùa Cầm Sơn, núi Long Ngâm, đền thờ Chiêu trưng Đại vương Lê Khôi, đền Hội Thống v.v... không chỉ ghi dấu lịch sử mà còn phản ánh niềm tin của cư dân vùng biển vào sự che chở, bảo hộ giữa sóng gió khơi xa.

Trên nền tảng đó, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng như lễ hội cầu ngư với các nghi thức rước ngư ông ra biển, nghi thức chèo cạn... được hình thành và gìn giữ, tạo nên bản sắc chung của văn hóa cửa biển Hà Tĩnh. Trong tiếng trống hội rộn ràng, trong nhịp chèo khoan thai hay những động tác mô phỏng lao động biển khơi của chèo cạn, công việc mưu sinh thường nhật được nâng lên thành biểu đạt nghệ thuật. Lao động không còn đơn lẻ, mà trở thành ký ức chung; niềm tin không còn vô hình, mà hiện diện bằng hình hài của lễ hội, của âm nhạc và của sự gắn kết cộng đồng.

Nếu lịch sử và tín ngưỡng tạo nên chiều sâu, thì nhịp sống mưu sinh lại tạo nên hồn cốt của văn hóa cửa biển. Mỗi buổi sớm, khi thuyền vừa cập bến, chợ cá họp ngay bên mép nước... Tiếng gọi nhau, tiếng chuyền tay những tôm những cá, mùi mặn của gió biển hòa quyện trong tiếng cười của mỗi ngư dân trước những khoang thuyền ắp đầy hải sản.

 Đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu bên Cửa Khẩu - nơi người dân bản xứ và người dân thập phương thực hành các nghi lễ tâm linh.

Đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu bên Cửa Khẩu - nơi người dân bản xứ và người dân thập phương thực hành các nghi lễ tâm linh.

Từ nhịp sống, môi trường sống ấy, con người vùng cửa biển hình thành cốt cách riêng. Họ “ăn sóng nói gió”, thẳng thắn, ít vòng vo, nhưng lại sống rất nặng nghĩa, nặng tình. Nhưng phía sau vẻ ngoài rắn rỏi ấy là một đời sống tình cảm sâu nặng, coi trọng nghĩa tình, sẵn sàng đùm bọc, sẻ chia trong những lúc biển động, thiên tai hay hoạn nạn. Những lễ hội cầu ngư, những tục lệ kiêng kị trước mỗi chuyến đi biển, những bữa cơm mặn mòi hương vị biển không chỉ là sinh hoạt đời thường, mà là cách cộng đồng tự gìn giữ mình giữa muôn trùng sóng gió.

Trong đời sống thường nhật, văn hóa cửa biển hiện lên bằng những điều rất giản dị. Với ông Nguyễn Tiến Bình ở thôn Hải Bắc, xã Thiên Cầm - người đã chứng kiến nhiều đổi thay của làng biển Nhượng Bạn (nay thuộc xã Thiên Cầm) thì những tục lệ kiêng kị trước chuyến ra khơi hay lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ Đức Ngư Ông không phải là hình thức mà là một biểu hiện của đạo lý biết ơn và niềm tin vào sự che chở giữa muôn trùng sóng gió. Trước chuyến biển, người ta giữ lời ăn tiếng nói, tránh điều xui rủi để lòng được yên. Đến mùa lễ hội, cả làng cùng làm lễ, cùng dâng hương, như một cách nhắc nhau về sự mong manh của phận người trước biển lớn và về niềm tin cần có để tiếp tục bám biển.

 Những cây cầu mới, những tuyến đường ven biển mở ra không gian phát triển mới, đưa cửa biển từ chỗ “cuối sông” trở thành “cửa ngõ” giao thương, du lịch.

Những cây cầu mới, những tuyến đường ven biển mở ra không gian phát triển mới, đưa cửa biển từ chỗ “cuối sông” trở thành “cửa ngõ” giao thương, du lịch.

Ngày nay, diện mạo các vùng cửa biển Hà Tĩnh đang đổi thay từng ngày. Những cây cầu mới, những tuyến đường ven biển mở ra không gian phát triển mới, đưa cửa biển từ chỗ “cuối sông” trở thành “cửa ngõ” giao thương, du lịch. Nhưng trong dòng chảy ấy, câu chuyện giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên cấp thiết. Theo Tiến sĩ Đặng Thị Thúy Hằng - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nguyễn Du: "Trong xu thế phát triển hiện nay, để bảo tồn văn hóa cửa biển cần sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, để văn hóa không bị “đóng khung”, mà tiếp tục sống trong đời sống đương đại. Đặc biệt là cần khai thác các đặc trưng văn hóa vùng cửa biển trong chiến lược phát triển du lịch, để từ đó quảng bá xa hơn, rộng hơn, sâu hơn và giữ gìn tốt hơn các giá trị ấy".

Cửa biển là nơi những dòng sông khép lại hành trình, nhưng cũng là nơi văn hóa lắng sâu và tiếp tục lan tỏa. Trải qua bao thế hệ, các cửa biển Hà Tĩnh đã hình thành nên những không gian văn hóa đặc trưng, gắn với lịch sử, tín ngưỡng và đời sống cư dân ven biển. Trong dòng chảy phát triển hôm nay, những giá trị ấy đang trở thành nền tảng cho du lịch văn hóa vùng cửa biển - nơi du khách không chỉ nghỉ dưỡng mà còn trải nghiệm, khám phá, cảm nhận nhịp sống làng biển, hiểu hơn về con người và văn hóa bản địa. Giữ gìn và phát huy những trầm tích ấy chính là cách để cửa biển Hà Tĩnh thêm phát triển bền vững, vừa gìn giữ bản sắc, vừa mở ra những hướng đi mới trong tương lai.

Anh Hoài

Nguồn Hà Tĩnh: https://baohatinh.vn/cua-bien-nhung-dau-an-van-hoa-ha-tinh-post302338.html