Cục Tần số, Cục Viễn thông phải thành lập phòng nghiên cứu để dẫn dắt doanh nghiệp
Để thực hiện vai trò dẫn dắt, chỉ đường cho doanh nghiệp, mang lại giá trị cho đất nước, Cục Tần số vô tuyến điện và Cục Viễn thông buộc phải có các nhóm nghiên cứu phát triển thị trường.
Chuyển sang "nghề nghiên cứu" để dẫn dắt
Yêu cầu được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nêu tại Hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026 của khối Bưu chính – Viễn thông. Ông chỉ ra thực tế: Kinh tế số Việt Nam hiện tăng trưởng khoảng 30% mỗi năm nhưng hạ tầng số, nền tảng của nó, chỉ tăng trưởng 1-2%. Ông nhận định mức tăng trưởng này là không bền vững trong khi nền kinh tế đang phát triển nhanh.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ tại Hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026 của khối Bưu chính – Viễn thông, chiều 10/1. Ảnh: Lưu Quý
Nguyên nhân là các nhà mạng đang gặp khó khăn, tập trung vào các mục tiêu như phát triển thuê bao. Trong khi đó, cơ quan quản lý nhà nước như Cục Viễn thông, Cục Tần số vô tuyến điện vẫn giữ cách làm cũ.
Để giải quyết vấn đề này, Bộ trưởng chỉ đạo hai đơn vị phải thành lập ngay các phòng nghiên cứu phát triển thị trường trong năm 2026; trước mắt, có thể dùng hạ tầng và nhân lực của doanh nghiệp và bộ.
“Các doanh nghiệp viễn thông bây giờ không phải nghề đào đất, lắp ăng-ten nữa. Nghề chính của nhà mạng chuyển sang nghề nghiên cứu phát triển. Vì thế, quản lý nhà nước cũng chuyển sang nghề nghiên cứu, dẫn người ta đi. Không bao giờ được hỏi doanh nghiệp là đi đường nào mà phải chỉ ra”, Bộ trưởng nhắc nhở.
Về nguồn lực, người đứng đầu Bộ Khoa học và Công nghệ phân tích: Doanh nghiệp thường ngại bỏ ra 10 triệu USD đầu tư phòng thí nghiệm (Lab) vì áp lực hiệu quả tài chính tức thời. Tuy nhiên, Nhà nước có thể đầu tư các phòng Lab quy mô lớn, khoảng 20 triệu USD.
Mục tiêu của khoản đầu tư này là để định hướng cho tổng vốn đầu tư hạ tầng mạng lưới, tần số của cả quốc gia đi đúng hướng, tránh lãng phí.
Bên cạnh hạ tầng nghiên cứu, Nhà nước sẽ sử dụng cơ chế thử nghiệm (Sandbox) trong trường hợp doanh nghiệp muốn triển khai mô hình mới nhưng vướng quy định pháp luật. Sự kết hợp giữa phòng Lab và cơ chế Sandbox giúp cơ quan quản lý dẫn dắt sự phát triển của doanh nghiệp.
Liên quan đến quản trị tài nguyên, Bộ trưởng yêu cầu thay đổi tư duy đấu giá tần số. Thay vì mục tiêu tối đa hóa giá trị thu về như trước đây, từ năm 2026, việc đấu giá phải tính đến lợi ích tổng thể cho nền kinh tế. Theo ông, tần số phải mang lại giá trị cho đất nước qua việc đầu tư, phủ sóng, đưa vào ứng dụng.
Cơ chế mới sẽ theo hướng: Nhà nước vẫn đấu giá, nhưng nếu doanh nghiệp cam kết phủ sóng nhanh và rộng thì sẽ được giảm giá. Điều này nhằm đảm bảo doanh nghiệp còn nguồn lực để đầu tư mạng lưới.
Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị trong năm 2026
Tại hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã giao nhiệm vụ chi tiết cho 6 đơn vị thuộc khối Bưu chính - Viễn thông, yêu cầu thực hiện chuyển đổi toàn diện trong năm 2026.
Đối với Vụ Bưu chính, Bộ trưởng nhắc đến khái niệm bưu chính số và logistics trên nền tảng số. Ông lưu ý phải tạo không gian bưu chính 3D (vận chuyển bằng drone, chuyển sang nền kinh tế tầm thấp), mở rộng không gian tăng trưởng ít nhất 4 lần. Mục tiêu là “đến năm 2030, 2035, bưu chính phải lớn hơn viễn thông”.

Toàn cảnh Hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026 của khối Bưu chính – Viễn thông. Ảnh: Lưu Quý
Với Cục Viễn thông, Bộ trưởng yêu cầu chuyển từ quản lý mạng viễn thông sang quản lý hạ tầng số quốc gia (viễn thông, Internet, trung tâm dữ liệu, Cloud, AI); từ quản lý hành chính sang kiến tạo cạnh tranh và thị trường viễn thông thế hệ mới; từ viễn thông độc lập sang gắn với kinh tế, xã hội.
“Viễn thông trở thành hạ tầng của nền kinh tế. Nhà mạng viễn thông thế hệ mới là công cụ sản xuất, là phương tiện sản xuất cho doanh nghiệp và nền kinh tế”, ông phát biểu.
Nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 gồm phổ cập 100% điện thoại thông minh cho người dùng di động tại Việt Nam; phủ sóng di động 99% dân số, tốc độ di động trung bình đạt 200 Mbps; tại vùng sâu vùng xa tốc độ tối thiểu là 100 Mbps. Bộ trưởng nhận định việc hoàn thành hai chỉ tiêu này sẽ giúp GDP tăng trưởng thêm từ 1% đến 2%.
Với Cục Tần số Vô tuyến điện, Bộ trưởng yêu cầu từ quản lý cấp phép tần số sang quản trị tài nguyên tần số; từ quản lý tĩnh sang quản lý tần số linh hoạt theo các công nghệ mới, sinh ra nhiều hình thức cấp phép mới; từ quản lý kỹ thuật sang kiến tạo thị trường và chuẩn mực tần số quốc gia, tạo lập thị trường tần số hiệu quả.
Cục Bưu điện Trung ương được giao nhiệm vụ chuyển từ hạ tầng số thông thường sang hạ tầng số phục vụ Đảng và Chính phủ, quản lý thêm DC, Cloud, AI Chính phủ.
Yêu cầu thứ hai là mạng sóng ngắn đặc biệt, cáp quang mã hóa, không kết nối với mạng công cộng. Cuối cùng, phải từ đi sau sang đi trước về công nghệ, nhất là mã hóa vì là phục vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cần chuyển từ đơn vị quản lý tài nguyên sang vai trò "kiến trúc sư về hạ tầng Internet quốc gia". Đơn vị phải thiết kế kiến trúc mạng để Internet Việt Nam hoạt động độc lập, bền vững ngay cả khi mất kết nối quốc tế.
Bộ trưởng yêu cầu Internet không chỉ chạy được mà phải đáng tin cậy. Khi 30-50% nền kinh tế vận hành trên Internet, sự cố mạng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia.
VNNIC cần xây dựng hệ sinh thái Internet Việt Nam, mở rộng các trạm trung chuyển (Internet Exchange) để giữ dữ liệu, lưu lượng và giá trị tại Việt Nam.
Với Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích, chuyển mục tiêu từ phổ cập dịch vụ viễn thông sang phổ cập "dịch vụ số cơ bản". Khái niệm phổ cập không còn là dịch vụ thoại ("Alô") mà là đảm bảo người dân vùng sâu, vùng xa có thể học tập và khám chữa bệnh từ xa.
Hạ tầng số do Quỹ hỗ trợ phải đảm bảo tốc độ tối thiểu 100 Mbps, sử dụng đa dạng công nghệ từ trạm BTS đến vệ tinh tầm thấp để phủ sóng 100% dân số.
Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ đều cần người có khát vọng lớn, giỏi nghề, tử tế, có kỷ luật và biết dùng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ, thay đổi cách làm việc và thực hiện số hóa.
Ông yêu cầu "các đơn vị phải chuyển đổi số toàn diện, chuyển đổi số 100%, đưa mọi hoạt động của đơn vị lên môi trường số. Xây dựng các nền tảng số dùng chung để phục vụ quản lý cũng như kết nối với các đối tượng quản lý. Thực hiện truyền thông đại chúng để mọi người dân hiểu, gần gũi với Bưu chính - Viễn thông như hơi thở hàng ngày".












