Cuộc cách mạng về tái cấu trúc giáo dục đại học Việt Nam - Bài 2: Ba khuyết tật và vấn đề 'cận huyết' học thuật

Tự chủ nửa vời, sự phân mảnh của các "ốc đảo học thuật" và cơ chế tài chính trói buộc tư duy sáng tạo, là ba căn bệnh thâm căn cố đế đang làm xói mòn sức sống của hệ thống giáo dục đại học công lập. Trầm trọng hơn, vấn nạn "cận huyết" học thuật cùng hiện tượng bè phái, cục bộ đang đóng sập cửa trước nhân tài, đẩy thế hệ trí thức trẻ vào hội chứng di cư tại chỗ. Nhận diện và cắt bỏ tận gốc những khối u này là điều kiện sinh tử để giải phóng sức sản xuất trí tuệ.

Tự chủ nửa vời, sự phân mảnh và gọng kìm hành chính

Căn bệnh đầu tiên và dễ nhận thấy nhất chính là sự tự chủ nửa vời, hay còn gọi là "nghịch lý chiếc áo chật". Trong tư duy quản lý vĩ mô thời gian qua, nội dung khai sáng và tiến bộ của tự chủ đại học đã bị cắt xén, đồng nhất hóa một cách khiên cưỡng với khái niệm "tự túc tài chính". Các trường đại học công lập bị đẩy ra thị trường, buộc phải tự bơi và xoay xở nguồn thu để duy trì hoạt động. Kết quả là để sinh tồn, nhiều đơn vị đã phải thương mại hóa công tác tuyển sinh một cách tràn lan, đẩy tỷ lệ học phí chiếm tới 90% đến 100% tổng doanh thu.

 Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh vinh danh các sinh viên tiêu biểu. Ảnh: qdnd.vn

 Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh vinh danh các sinh viên tiêu biểu. Ảnh: qdnd.vn

Thế nhưng, nghịch lý nằm ở chỗ, trong khi "đôi chân" phải tự chạy theo thị trường thì "đôi tay" điều hành và quản trị nhân sự của nhà trường lại bị trói buộc chặt chẽ bởi Luật Viên chức, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách và cơ chế “Bộ chủ quản”. Việc thiếu vắng quyền tự chủ về nhân sự và học thuật thực chất đã biến nhiều cơ sở giáo dục đại học thành những "công xưởng" cấp phát văn bằng, thương mại hóa đào tạo. Cổng trường đại học từng là chốn tôn nghiêm của học thuật, nay đứng trước áp lực tài chính đã vô tình hạ thấp tiêu chuẩn đầu vào, làm suy thoái nghiêm trọng giá trị của tấm bằng cử nhân (và không chỉ có tấm bằng cử nhân) và niềm tin của xã hội.

Bên cạnh sự tự chủ méo mó, căn bệnh thứ hai đục khoét hệ thống là sự phân mảnh trầm trọng, tạo ra những “ốc đảo học thuật” khép kín. Việc duy trì quá nhiều trường đại học đơn ngành hẹp (như Kinh tế, Ngân hàng, Tài chính, Xây dựng, Giao thông, Thủy lợi, Nông nghiệp...) đã băm nát nguồn lực nghiên cứu và phát triển (R&D) quốc gia thành những mảnh vụn nhỏ lẻ, đầu tư dàn trải và kém hiệu quả. Khoa học và công nghệ hiện đại ngày nay không thể tồn tại trong các ngăn kéo biệt lập; những bài toán lớn của quốc gia như chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn hay mục tiêu Net Zero vào năm 2050 đòi hỏi sự giao thoa liên ngành rất cao. Tuy nhiên, các trường đơn ngành hiện nay vẫn hoạt động như những ốc đảo cát cứ, tự ngăn sông cấm chợ lẫn nhau, triệt tiêu khả năng cộng hưởng tri thức.

Căn bệnh thứ ba bóp nghẹt sức sáng tạo chính là cơ chế tài chính mang nặng tính hành chính và "hình sự hóa" rủi ro khoa học. Hoạt động nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, sinh học thực địa hay công nghệ mới, luôn bao hàm những rủi ro khách quan do tự nhiên, thời tiết hoặc bản chất thử nghiệm của khoa học. Thế nhưng, cơ chế quản lý tài chính hiện hành lại ép nhà khoa học phải làm việc với tư duy của một "kế toán trưởng" xây dựng cơ bản. Các quy định buộc họ phải dự toán từng chi tiết nhỏ từ vài năm trước và nghiệm thu khắt khe bằng hóa đơn đỏ phi lý.

Sự trói buộc xơ cứng này đã bóp nghẹt tinh thần dấn thân, thử nghiệm cái mới, bởi một nền khoa học sợ sai sót và thiếu không gian rủi ro là một nền khoa học chết.

Vấn nạn "cận huyết" học thuật và hội chứng di cư tại chỗ

Nếu ba căn bệnh về cơ chế là những gọng kìm bên ngoài, thì vấn nạn "cận huyết" học thuật lại là chiếc "gai độc" nằm sâu bên trong, tàn phá nghiêm trọng môi trường học thuật chân chính. "Cận huyết" học thuật là hiện tượng một cơ sở giáo dục đại học liên tục tuyển dụng chính sinh viên tốt nghiệp hoặc nghiên cứu sinh do trường mình đào tạo để giữ lại làm giảng viên, nghiên cứu viên, rồi tuần tự cất nhắc lên các vị trí lãnh đạo.  

Cơ chế tuyển dụng đóng kín này tạo ra những hàng rào vô hình nhưng kiên cố, bóp nghẹt nguyên tắc trọng dụng nhân tài. Những thủ khoa xuất sắc hay tiến sĩ được đào tạo bài bản từ các trường khác hoặc nền giáo dục tiên tiến trên thế giới khi trở về nước thường vấp phải bức tường bè phái, bị cô lập hoặc loại từ vòng hồ sơ vì không thuộc vây cánh của các nhóm lợi ích tại cơ sở đào tạo. Khi một cá nhân ngồi ở ghế Hiệu trưởng hoặc Trưởng khoa quá lâu mà thiếu vắng cơ chế luân chuyển, họ sẽ dần dung dưỡng và hình thành các "sứ quân học thuật" cát cứ địa phương, ngăn chặn mọi tư tưởng cải cách đa ngành để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của nhóm mình.

Thí sinh tìm hiểu thủ tục nhập học tại Trường ĐH Hùng Vương TP Hồ Chí Minh. Ảnh: qdnd.vn 

Thí sinh tìm hiểu thủ tục nhập học tại Trường ĐH Hùng Vương TP Hồ Chí Minh. Ảnh: qdnd.vn 

Hệ quả nhãn tiền của môi trường ngột ngạt này là sự xơ cứng tư duy, triệt tiêu đổi mới sáng tạo và sự lên ngôi của văn hóa "tuân thủ một chiều". Đáng báo động hơn cả là sự xuất hiện của hội chứng di cư tại chỗ đang âm thầm gặm nhấm các trường đại học công lập lớn.

Không ít giảng viên trẻ tốt nghiệp tiến sĩ xuất sắc ở nước ngoài về, mang theo hoài bão lớn lao và nhiệt huyết cống hiến, nhưng sau một thời gian va đập với bức tường cận huyết và bè phái hành chính, họ đã chọn cách "tự trói mình trong im lặng". Họ vẫn giữ danh biên chế, lên lớp dạy đối phó đủ giờ để nhận lương qua ngày, nhưng đã đem toàn bộ trí tuệ, năng lực và những công trình nghiên cứu giá trị nhất ra bên ngoài để “bán” cho các doanh nghiệp tư nhân hoặc trường đại học quốc tế - nơi thực tài của họ được tôn trọng và trả công xứng đáng.

Sự chảy máu chất xám ngay trong nội bộ ấy là một lãng phí đau xót cho nguồn lực quốc gia. Chừng nào vấn nạn cận huyết học thuật chưa bị cắt bỏ tận gốc, chừng đó các đại học công lập còn loay hoay trong vòng luẩn quẩn của sự trì trệ, bất lực trước sứ mệnh vươn lên tầm cao mới.

(Còn tiếp)

MINH NGUYÊN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/cac-van-de/cuoc-cach-mang-ve-tai-cau-truc-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-bai-2-ba-khuyet-tat-va-van-de-can-huyet-hoc-thuat-1063191