Cuộc đời đức vua Lê Thần Tông và các bà phi

Trong suốt chiều dài lịch sử 108 vua chúa Việt Nam, vua Lê Thần Tông (1607 - 1662) là người đặc biệt, bởi trong danh sách các phi tần của ông có tới 4 bà là người ngoại quốc.

Thánh vị của Thái tổ Cao Hoàng đế và bài vị của Lê Thần Tông là hai trong số thánh vị được các nhà sử học đánh giá quý hiếm và độc nhất ở xứ Thanh.

Thánh vị của Thái tổ Cao Hoàng đế và bài vị của Lê Thần Tông là hai trong số thánh vị được các nhà sử học đánh giá quý hiếm và độc nhất ở xứ Thanh.

Đánh giá ngắn gọn về Lê Thần Tông, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” có đoạn viết: “Vua tên húy là Duy Kỳ, con trưởng của Lê Kính Tông, ở ngôi 25 năm, nhường ngôi 6 năm, lại lên ngôi 13 năm, thọ 56 tuổi, chôn ở lăng Quần Ngọc. Vua sống mũi cao, mặt rồng, thông minh, học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi, đáng khen là bậc vua giỏi. Song chốn cung vi không có chế độ, mê hoặc Phật giáo, đó là chỗ kém”.

Việc sử sách chép Lê Thần Tông “chốn cung vi không có chế độ” vừa là để nhắc tới chuyện lập hoàng hậu một cách miễn cưỡng, cũng đồng thời ám chỉ về việc ông lấy những người vợ ngoại quốc mà trong con mắt đương thời, họ thuộc sắc tộc không cao quý.

Bà vợ đầu tiên của vua Lê Thần Tông, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 - 1660), không chỉ hơn ông 12 tuổi mà còn là phụ nữ đã góa chồng và có tới 4 người con. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Vào năm Canh Ngọ 1630, niên hiệu Đức Long thứ 2, tháng 5, vua lấy con gái vương (chúa Trịnh Tráng) là Trịnh Thị Ngọc Trúc, lập làm hoàng hậu. Trước, Ngọc Trúc đã lấy người bác họ của vua là Cường quận công Lê Trụ, sinh được 4 con”.

Nổi tiếng là một người uyên bác và sùng đạo, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc về sau được dân gọi là “bà chúa Kim Cương”. Đặc biệt, bà là người biên soạn “Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa” - cuốn Từ điển Hán - Nôm cổ nhất của Việt Nam. Cuốn từ điển này giúp ích cho những người theo con đường khoa cử và cả những người muốn đọc các kinh sách nhà Phật, là sách quý báu “xem bằng ngọc vàng”.

Ngoài hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, vua Lê Thần Tông có nhiều phi tần khác và điều kỳ lạ là trong số họ có 4 phi tần là người Thái, người Hán, người Lào, người Hà Lan. Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của mỹ nhân người ngoại quốc trong nội cung của Lê Thần Tông như “món quà” tình cảm dâng tiến để có được sự che chở, náu thân. Đó là phi tần người Trung Quốc được dâng lên vua có thể là con cháu di thần, quan lại triều Minh đi tị nạn đến nước ta khi đó; phi tần người Ai Lao được tuyển chọn dâng tiến như một cách bày tỏ tấm thân tình, kính trọng; phi tần người Xiêm La là quà do các thương nhân đến từ nước này dâng lên vua nước Đại Việt ta.

Thái miếu nhà Hậu Lê - nơi lưu thờ bài vị 27 nhà vua, Hoàng Thái hậu cùng các vương công nhà Hậu Lê.

Thái miếu nhà Hậu Lê - nơi lưu thờ bài vị 27 nhà vua, Hoàng Thái hậu cùng các vương công nhà Hậu Lê.

Đặc biệt nhất là phi tần người Hà Lan. Sách Lịch sử cổ và hiện đại của Trung Kỳ của giáo sĩ Adrien Lurray thuộc Hội truyền giáo ngoại quốc của Pháp, sách Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (hay còn có tên khác là Tường trình về Đàng Ngoài) của Alexandre de Rhodes đều có đoạn viết: Nàng tên là Onrona (có tài liệu ghi là OurouSan), được xếp hàng cung tần, đứng thứ hai sau hoàng hậu. Bà là con gái của viên Toàn quyền Hà Lan ở Đài Loan.

Tài liệu ghi rằng, trong chuyến cùng thương đoàn Hà Lan sang Việt Nam vào năm 1630, bà Onrona được gặp vua Lê Thần Tông ở kinh thành Thăng Long. Khi đó, nghe theo lời của cha, bà ở lại Việt Nam làm vương phi của vua Thần Tông. Những ngày ở Thăng Long, bà buồn rầu vì lần đầu tiên sống ở kinh thành với hầu hết những người không biết tiếng...

Chính việc liên minh chính trị - quân sự mà đây cũng là thời kỳ người ngoại quốc, đặc biệt là người Hà Lan đến miền Bắc Việt Nam làm ăn khá nhiều. Đơn cử, Công ty Đông Ấn của Hà Lan đã liên tục lập những thương điếm ở Phố Hiến, ở Kẻ Chợ... mở mang thêm nhiều cuộc làm ăn buôn bán với Đàng Ngoài.

Theo một số tư liệu, trong một lần về xứ Thanh, ngưỡng mộ cảnh đẹp vùng núi Kỳ Lân, vua Lê Thần Tông đã cho dựng một ngôi chùa cạnh núi đặt tên là Đại Bi tự (còn gọi là chùa Mật Sơn, chùa Mật) để thờ Phật, thờ mình cùng 6 bà phi. Các tư liệu khác ghi rằng, chùa do vua Lê Huyền Tông dựng để thờ vua cha, Hoàng Thái hậu cùng các phi tần của cha. Lại có chuyện, vì sống hòa thuận, 6 bà vợ vua Lê Thần Tông cùng đồng lòng bỏ tiền công đức ra làm 6 pho tượng nhập thần 6 bà, với nguyện ước mãi mãi bên nhau. Năm 1959, 5 pho tượng vợ vua Lê Thần Tông đã được rước từ chùa về Thái miếu nhà Hậu Lê. Riêng tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được đưa về Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Dù chưa có tư liệu nào xác định cụ thể năm tạc tượng, song nhìn vào diễn trình lịch sử, chúng ta phần nào hiểu được rằng thời kỳ trị vì của vua Lê Thần Tông là một giai đoạn “mở cửa”. Mở cửa trong quan niệm hôn nhân, các mối quan hệ chính trị, kinh tế xã hội đương thời giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng cũng như sự giao lưu, tiếp xúc với phương Tây cách đây gần 400 năm trước.

(Bài viết có sử dụng tư liệu trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài và một số tài liệu khác...).

Bài và ảnh: Kiều Huyền

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/cuoc-doi-nbsp-duc-vua-le-than-tong-va-cac-ba-phi-42336.htm