Cuộc rà soát NATO 3.0: Khi châu Âu phải tự đứng trên đôi chân của mình
Tháng trước, Mỹ thông báo với các đồng minh rằng họ quyết định thu hẹp nguồn lực quân sự sẵn có dành cho NATO. Và hôm 18/6, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ khẳng định Washington không nói giỡn, tuyên bố sẽ tiến hành một cuộc rà soát thực sự kéo dài sáu tháng, bao gồm cả tham vấn Quốc hội.

Các thành viên NATO theo thập kỷ gia nhập. Nguồn: NATO/Guardian Graphic.
Tuyên bố về một cuộc rà soát toàn diện kéo dài sáu tháng đối với hiện diện quân sự Mỹ tại châu Âu cùng khái niệm “NATO 3.0” mà Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth đưa ra đang tạo nên những tranh luận mới trong nội bộ liên minh.
Dù không đồng nghĩa với việc Washington rút khỏi Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), động thái này cho thấy một xu hướng ngày càng rõ nét: Mỹ muốn châu Âu đảm nhận vai trò lớn hơn trong bảo đảm an ninh lục địa, trong khi Washington dành thêm nguồn lực cho khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Từ NATO 1.0 đến NATO 3.0
Tại cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng NATO ở Brussels hôm 18/6, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth nêu rõ, Lầu Năm Góc sẽ tiến hành cuộc rà soát kéo dài sáu tháng đối với lực lượng Mỹ tại châu Âu. Mục tiêu là bảo đảm NATO chuyển dịch “nhanh chóng và không thể đảo ngược” theo hướng châu Âu đóng vai trò chính trong phòng thủ lục địa. Ông Hegseth gọi quá trình này là NATO 3.0 - một NATO hậu Chiến tranh Lạnh.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, châu Âu không được tạo ra để phụ thuộc vào Mỹ. Đó không phải điều mà các nhà lãnh đạo trước đây như Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle hay Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Liên bang Đức Konrad Adenauer mong muốn.
Ngay từ năm 1951, nhân vật Dwight Eisenhower từng nói rằng: “Nếu sau 10 năm, toàn bộ binh sĩ Mỹ đồn trú tại châu Âu vì mục đích phòng thủ quốc gia vẫn chưa trở về Mỹ, thì toàn bộ tiến trình này đã thất bại”. Khi đó, ông Eisenhower còn là Tư lệnh Tối cao Đồng minh NATO chứ chưa trở thành Tổng thống thứ 34 của nước Mỹ.
Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ lý giải, ông Eisenhower và các nhà lãnh đạo đồng minh lúc bấy giờ - những người vẫn còn sống trong ký ức của Thế chiến II, đều hiểu rằng sức mạnh của NATO không đến từ các ủy ban, các cuộc họp hay những lá cờ nhỏ trên những chiếc bàn sang trọng. Sức mạnh ấy đến từ những người lính và việc bảo vệ châu Âu phải được thực hiện bởi chính các đồng minh NATO.

Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth nhấn mạnh NATO cần trở về đúng bản chất của một liên minh quân sự. Ảnh: DOW.
Đó là NATO 1.0 - một tổ chức quân sự cứng rắn, tập trung hoàn toàn vào nhiệm vụ phòng thủ châu Âu. Tuy nhiên, tinh thần đó đã phai nhạt sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Theo ông Pete Hegseth, NATO 2.0 dần trượt sang các hoạt động ngoài khu vực và nhiều lĩnh vực không liên quan đến tác chiến quân sự.
Ông Pete Hegseth khẳng định: “Đấy là lý do chúng tôi liên tục trao đổi với các đồng minh, mở rộng năng lực công nghiệp quốc phòng của chính mình và khuyến khích các nước cùng hành động để biến NATO 3.0 thành hiện thực. Mục tiêu là đưa NATO trở về đúng bản chất của một liên minh quân sự, đồng thời bảo đảm châu Âu có đủ sức mạnh để duy trì khả năng răn đe lâu dài trước mọi hành động gây hấn và nếu cần thiết, thực hiện đầy đủ Điều 5 của Hiệp ước NATO”.
Thực tế, ý tưởng này không hoàn toàn mới. Từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Donald Trump, Washington đã nhiều lần yêu cầu các đồng minh châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Tuy nhiên, khác với những tranh cãi trước đây chủ yếu xoay quanh ngân sách, lần này Mỹ bắt đầu điều chỉnh cả cấu trúc đóng góp quân sự thực tế cho NATO.

Giới chuyên gia nhận định, NATO 3.0 phản ánh sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ. Ảnh: Reuters
Reuters cho biết, Washington đã thông báo với các đồng minh từ tháng trước rằng Mỹ sẽ thu hẹp nguồn lực quân sự sẵn có. Các khoản cắt giảm bao gồm máy bay chiến đấu, máy bay tiếp dầu, máy bay không người lái và một số tàu chiến. Hồi đầu tháng 5, Nhà Trắng cũng tuyên bố sẽ rút 5.000 quân khỏi Đức và vài tuần sau đó đã tiếp tục thông báo rút thêm 4.000 quân khỏi Ba Lan.
Theo giới phân tích, đằng sau NATO 3.0 phản ánh một thực tế chiến lược đang thay đổi. Trong nhiều năm, NATO vận hành dựa trên giả định rằng Mỹ là nhà bảo đảm an ninh cuối cùng với châu Âu. Tuy nhiên, giới hoạch định chiến lược Mỹ ngày càng cho rằng thách thức lớn nhất đối với Washington trong thế kỷ XXI nằm ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Ông Elbridge Colby - Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách chính sách và là một trong những kiến trúc sư của chiến lược an ninh mới của Washington từng nhiều lần nhấn mạnh, Mỹ không thể đồng thời duy trì mức hiện diện quân sự cao nhất ở cả châu Âu và châu Á. Theo cách tiếp cận này, việc châu Âu tự đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn sẽ giúp Washington giải phóng nguồn lực cho các ưu tiên chiến lược khác.
Tướng Alexus Grynkewich, Tư lệnh Tối cao Đồng minh NATO tại châu Âu (SACEUR) thì cho rằng, trong nhiều năm qua đã tồn tại tình trạng "phụ thuộc lẫn nhau quá mức" của Mô hình Lực lượng NATO vào các năng lực quân sự của Mỹ.
Theo ông, việc Washington điều chỉnh đóng góp quân sự lần này xuất phát từ yêu cầu tái cân bằng trách nhiệm trong liên minh, đồng thời cho thấy thực tế Mỹ phải chuẩn bị cho khả năng đối mặt với các cuộc khủng hoảng đồng thời ở nhiều khu vực chiến lược. Nói cách khác, NATO 3.0 phản ánh sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Một châu Âu vững chắc hơn khi một NATO mạnh mẽ hơn
Điều đáng chú ý là các đồng minh châu Âu không phản ứng theo hướng đối đầu. Tổng thư ký NATO Mark Rutte thừa nhận, Mỹ đang điều chỉnh đóng góp quân sự, nhưng cho rằng đây là một phần của quá trình xây dựng “một châu Âu vững chắc hơn khi một NATO mạnh mẽ hơn”.
Theo ông, các nước châu Âu và Canada đã tăng thêm hơn 90 tỷ USD chi tiêu quốc phòng trong năm 2025, tương đương mức tăng gần 20% so với năm trước. Từ góc nhìn của Brussels, NATO 3.0 không phải là sự suy yếu của liên minh mà là quá trình tái cân bằng trách nhiệm. NATO sẽ được dẫn dắt nhiều hơn bởi châu Âu trong khi Mỹ vẫn duy trì vai trò cốt lõi của liên minh.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz thì nhấn mạnh, châu Âu nhận thức rõ và đang tăng cường “trụ cột châu Âu” trong NATO thông qua hợp tác quốc phòng sâu rộng với Anh, Na Uy và các đối tác khác.

Tổng thư ký NATO Mark Rutte. Ảnh: NATO
Tuy nhiên, thách thức đối với NATO 3.0 không chỉ nằm ở việc tăng ngân sách quốc phòng mà còn ở khả năng chuyển hóa nguồn lực tài chính thành sức mạnh quân sự thực tế. Nhiều chuyên gia quốc phòng châu Âu cho rằng điều khó khăn nhất hiện nay là thay thế những năng lực chiến lược mà Mỹ đang cung cấp cho liên minh ở quy mô lớn.
Reuters dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius cảnh báo rằng bất kỳ sự điều chỉnh nào đối với hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu cũng cần được thực hiện một cách có trật tự để tránh tạo ra khoảng trống năng lực nguy hiểm.
Thực tế, phần lớn các quân đội châu Âu hiện vẫn phụ thuộc đáng kể vào Mỹ trong các lĩnh vực then chốt như tiếp nhiên liệu trên không, tình báo - giám sát - trinh sát (ISR), chỉ huy và kiểm soát tác chiến quy mô lớn, triển khai lực lượng nhanh xuyên lục địa hay các hệ thống tấn công tầm xa. Đây đều là những năng lực đòi hỏi nền tảng công nghiệp quốc phòng, công nghệ và kinh nghiệm tác chiến tích lũy trong nhiều thập niên.
Vì vậy, dù châu Âu có thể nhanh chóng tăng chi tiêu quốc phòng hoặc mở rộng quân số, việc xây dựng các năng lực tương đương Mỹ vẫn là quá trình dài hạn, có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Chính điều này khiến quá trình chuyển đổi sang mô hình NATO 3.0 được đánh giá là không chỉ là bài toán về ngân sách, mà còn là phép thử đối với năng lực tự chủ chiến lược của châu Âu trong tương lai.
Vũ khí hạt nhân của Mỹ sẽ vẫn ở lại
Trong khi Washington đang xem xét điều chỉnh hiện diện quân sự thông thường tại châu Âu, một lĩnh vực được xác định sẽ không thay đổi là năng lực răn đe hạt nhân của Mỹ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth khẳng định Washington không có kế hoạch rút các vũ khí hạt nhân đang triển khai tại châu Âu. Đây được xem là một trong những nền tảng quan trọng nhất của cơ chế phòng thủ tập thể NATO kể từ thời Chiến tranh Lạnh.
Ngay sau cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng NATO hôm 18/6, Nhóm Kế hoạch Hạt nhân NATO đã ra tuyên bố chung đầu tiên sau gần hai thập kỷ, nhấn mạnh rằng các lực lượng hạt nhân chiến lược của liên minh vẫn là "bảo đảm tối thượng" đối với an ninh của các đồng minh.
Tuyên bố khẳng định NATO sẽ tiếp tục hiện đại hóa năng lực hạt nhân, tăng cường công tác lập kế hoạch và điều chỉnh cơ chế răn đe nhằm đáp ứng môi trường an ninh đang thay đổi.
Theo các ước tính của Liên đoàn Các nhà khoa học Mỹ (FAS), Washington hiện vẫn triển khai khoảng 100 bom hạt nhân chiến thuật B61 tại một số căn cứ ở Bỉ, Đức, Italia, Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ theo cơ chế chia sẻ hạt nhân của NATO.













