Cước tàu tăng cao đang vẽ lại bản đồ thương mại dầu mỏ châu Á
Cước vận tải biển tăng vọt kết hợp với phí rủi ro chiến tranh tại Trung Đông đang buộc các nhà sản xuất dầu mỏ toàn cầu phải tăng chiết khấu giá bán tại cảng đi (FOB) hoặc tìm người mua ở gần hơn nhằm chia sẻ chi phí vận chuyển và giữ chân khách hàng tại châu Á.
Nói cách khác, hoạt động thương mại dầu mỏ tại khu vực này đang trải qua một cuộc tái định hình khi chi phí của các tuyến đường truyền thống đang đấy giá dầu vượt qua ngưỡng chấp nhận.

Giá xăng dầu được niêm yết tại trạm xăng ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: Yonhap/TTXVN
Theo phân tích công bố ngày 18/10 trên trang tin năng lượng Oilprice.com, chi phí vận chuyển leo thang đã đẩy giá dầu thô giao tại cảng đến ở Trung Quốc lên tới 140 USD/thùng, vượt mức các nhà máy lọc dầu nước này sẵn sàng chi trả. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, mức giá này lên gần 145 USD/thùng. Để giữ khách hàng, các nhà sản xuất buộc phải giảm giá bán hoặc tìm người mua ở gần hơn.
Áp lực lớn nhất đè lên các nhà xuất khẩu Trung Đông. Từ khi chiến sự nổ ra hồi cuối tháng 2, cước thuê tàu chở dầu cỡ rất lớn (VLCC) từ vùng Vịnh tới Trung Quốc đã tăng từ khoảng 4 USD/thùng lên 17 USD/thùng. Sau khi lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran hết hiệu lực vào tháng 8, cước tiếp tục leo lên 33 USD/thùng vào cuối tháng 9.
Tuyến thay thế qua Biển Đỏ cũng không còn rẻ: cước từ cảng Yanbu của Saudi Arabia tới Trung Quốc lên 28 USD/thùng vào giữa tháng 10 do lực lượng Houthi hạn chế tàu chở dầu nước này qua eo biển Bab el-Mandeb.
Sức ép này buộc Saudi Aramco phải gánh bớt chi phí vận chuyển cho khách hàng. Tập đoàn đã định giá bán chính thức (OSP) tháng 11 của dầu Arab Light thấp hơn 5 USD/thùng so với giá tham chiếu Oman/Dubai. Tuy nhiên, mức giảm này mới bù được một phần chi phí 10-15 USD/thùng để đưa dầu ra khỏi eo biển Hormuz, nên giá dầu Saudi Arabia giao tới Trung Quốc vẫn trên 130 USD/thùng, cao hơn mức người mua chấp nhận.
Do bên mua muốn chờ cước giảm, Aramco chọn cách chốt giá ngay từ bây giờ cho những lô hàng xếp tàu khoảng hai tháng sau. Cách làm này giúp tập đoàn có sẵn người mua, nhưng khiến lợi nhuận phụ thuộc vào giá cước: nếu cước giảm, thỏa thuận sẽ có lợi; nếu cước neo cao, biên lợi nhuận có thể bị thu hẹp, thậm chí mất hết.
Đà tăng cước đã lan ra ngoài Trung Đông. Cước VLCC từ Brazil (Bra-xin) tới Trung Quốc lên khoảng 36 USD/thùng vào giữa tháng 10, đẩy giá dầu Tupi giao tới nước này lên khoảng 140 USD/thùng. Với dầu Tây Phi, cước tới Trung Quốc cũng tăng mạnh lên khoảng 34 USD/thùng, cao hơn 9 USD/thùng so với tuyến tới Ấn Độ.
Thực tế này đang biến Ấn Độ thành điểm đến hấp dẫn nhờ khoảng cách hải trình ngắn hơn. Dữ liệu vận tải tháng 10/2026 cho thấy các lô hàng dầu thô từ Brazil và Tây Phi đang ồ ạt chuyển hướng sang Ấn Độ thay vì Trung Quốc. Đáng chú ý, lượng dầu thô Ấn Độ nhập khẩu từ Angola (An-gô-la) dự kiến tăng vọt từ 35.000 thùng/ngày trong tháng 9/2026 lên 315.000 thùng/ngày trong tháng 10/2026, bên cạnh các lô hàng tăng cường từ Gabon (Ca-bông) và Congo (Công-gô).
Ngoài ra, cước vận tải chưa phản ánh hết chi phí mua dầu. Việc chuyển dầu sang tàu khác bên ngoài eo biển Hormuz thường xuyên bị chậm trễ do các cuộc tấn công từ máy bay không người lái. Phí lưu tàu đã lên tới 1 triệu USD cho mỗi ngày chậm trễ, còn phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tăng lên 7-8% giá trị thân vỏ và máy tàu, tương đương 4-5 USD cho một thùng dầu vận chuyển bằng VLCC.
Những chi phí này đang tạo gánh nặng tài chính khổng lồ cho các nhà nhập khẩu. Các nhà máy lọc dầu châu Á vì thế ngày càng coi trọng độ tin cậy của nguồn cung, giúp dầu Mỹ Latinh hấp dẫn hơn nhờ tuyến vận chuyển không đi qua các vùng biển bị hạn chế.
Đối với nguồn cung từ Nga, các nhà cung cấp dầu Urals cũng phải điều chỉnh giảm mạnh mức chênh lệch giá so với dầu Brent để giữ tính cạnh tranh tại thị trường Ấn Độ. Trong khi đó, dòng dầu thô ESPO của Nga ghi nhận sức hút lớn từ các tập đoàn năng lượng nhà nước Trung Quốc nhờ lợi thế hải trình ngắn, với toàn bộ các lô hàng giao tháng 11/2026 đã được thu mua xong từ sớm để đảm bảo tiến độ giao hàng.
Trước những biến động này, giới quan sát dự báo dòng chảy dầu mỏ sẽ dần được phân bổ lại theo cả chi phí lẫn độ chắc chắn trong hoạt động giao hàng. Ấn Độ sẽ nhận thêm dầu từ Mỹ Latinh và Tây Phi, còn Trung Quốc nhiều khả năng tiếp tục tập trung vào dầu Nga, Saudi Arabia, thậm chí Canada. Với các nhà máy lọc dầu châu Á, lô dầu hấp dẫn nhất hiện thời là lô hàng có chi phí và thời điểm cập cảng dễ dự đoán.

