Cứu người tai nạn nhưng làm nặng thêm thương tích: Người cứu có phải bồi thường?

Cứu nạn nhân khỏi nguy cơ bị phương tiện khác đâm, va nhưng vô tình làm nặng thêm thương tích, người cứu có phải bồi thường?

Bạn đọc hỏi: Một người đi đường chứng kiến tai nạn giao thông. Sau va chạm, nạn nhân nằm bất động giữa phần đường xe chạy, trong khi các phương tiện khác vẫn lưu thông và có nguy cơ tiếp tục va vào nạn nhân. Người đi đường đã nhanh chóng tiếp cận và kéo nạn nhân ra khỏi khu vực nguy hiểm dù không có kiến thức sơ cứu và không biết nạn nhân có thể bị chấn thương cột sống. Sau đó bệnh viện xác định nạn nhân bị chấn thương cột sống nghiêm trọng; gia đình cho rằng việc di chuyển không đúng cách có thể làm thương tích nặng thêm và yêu cầu bồi thường. Điều này có đúng hay không?

Cứu nạn nhân khỏi nguy cơ bị phương tiện khác đâm vào nhưng vô tình làm nặng thêm thương tích, người cứu có phải bồi thường? Ảnh minh họa - AI.

Cứu nạn nhân khỏi nguy cơ bị phương tiện khác đâm vào nhưng vô tình làm nặng thêm thương tích, người cứu có phải bồi thường? Ảnh minh họa - AI.

Luật sư Phạm Văn Tuấn (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) trả lời như sau:

Không phải cứ di chuyển nạn nhân làm thương tích nặng thêm là người cứu phải bồi thường

Về nguyên tắc, Điều 584 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường...". Tuy nhiên, pháp luật cũng thừa nhận trường hợp một người buộc phải gây ra thiệt hại để ngăn chặn một nguy cơ lớn hơn.

Điều 595 BLDS 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết: nếu thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu đó.

Đồng thời, Điều 23 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về tình thế cấp thiết. Theo đó, người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc của Nhà nước mà không còn cách nào khác là phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì không phải là tội phạm.

Đặt vào tình huống cụ thể, nạn nhân đang nằm bất động ngay giữa phần đường xe chạy, các phương tiện khác vẫn lưu thông và có nguy cơ tiếp tục va vào người. Đây là một nguy hiểm hiện hữu, trực tiếp và cấp bách đối với tính mạng, sức khỏe của nạn nhân. Nếu tại thời điểm đó người đi đường không di chuyển nạn nhân thì nguy cơ tiếp tục bị phương tiện khác đâm, va là có thật. Trong khi người cứu không có điều kiện gọi nhân viên y tế đến xử lý ngay, thì việc nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi vùng nguy hiểm về nguyên tắc có thể được xem là hành động cần thiết để loại trừ nguy hiểm, chứ không đương nhiên là hành vi gây thiệt hại trái pháp luật.

Việc người cứu không có chuyên môn sơ cứu có phải là lỗi?

Không thể lấy tiêu chuẩn của một bác sĩ hoặc nhân viên cấp cứu chuyên nghiệp để đánh giá một người dân bình thường đang chứng kiến tai nạn bất ngờ.

Cơ quan có thẩm quyền phải xem xét hoàn cảnh thực tế tại thời điểm người đó hành động: nạn nhân đang ở đâu; nguy cơ bị phương tiện khác đâm hoặc va vào có thực sự hiện hữu không; có thể gọi cấp cứu và chờ đợi hay không; người cứu có phương án nào khác an toàn hơn không; người cứu có nhận thức được nguy cơ chấn thương cột sống hay không; và cách thức di chuyển thực tế như thế nào?

Nếu người cứu chỉ nhằm mục đích đưa nạn nhân ra khỏi làn xe đang lưu thông, thực hiện trong điều kiện khẩn cấp và không có mục đích, cũng không có sự cẩu thả rõ ràng nhằm gây thêm thương tích, thì việc sau đó bác sĩ xác định nạn nhân bị chấn thương cột sống không đồng nghĩa với việc người cứu phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ.

Khi nào người cứu có thể phải bồi thường?

Điểm mấu chốt là phải xác định "vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết".

Thứ nhất, nguy hiểm ban đầu phải có thật và đang xảy ra. Ví dụ nạn nhân nằm giữa làn đường, xe cộ đang chạy với tốc độ cao và nguy cơ tiếp tục bị đâm va là rõ ràng.

Thứ hai, việc di chuyển phải nhằm loại bỏ hoặc hạn chế nguy hiểm. Nếu người cứu kéo nạn nhân ra khỏi phần đường xe chạy để bảo vệ tính mạng thì mục đích này phù hợp với tình thế cấp thiết.

Thứ ba, tại thời điểm đó có còn phương án nào khác ít gây thiệt hại hơn hay không. Nếu có thể nhanh chóng cảnh báo, phong tỏa khu vực và chờ lực lượng cấp cứu mà vẫn bảo đảm nạn nhân không tiếp tục gặp nguy hiểm thì việc di chuyển mạnh, không cần thiết có thể bị đánh giá khác.

Thứ tư, mức độ thiệt hại gây ra phải được đặt trong tương quan với thiệt hại cần ngăn ngừa. Đây là tiêu chí đặc biệt quan trọng của tình thế cấp thiết. Nếu việc kéo nạn nhân ra khỏi đường là cần thiết để tránh nguy cơ tử vong hoặc bị đâm va tiếp, nhưng trong quá trình đó vô tình làm nặng thêm chấn thương cột sống, cần so sánh thiệt hại thực tế phát sinh với nguy cơ nghiêm trọng mà người cứu đang tìm cách ngăn chặn.

Gia đình nạn nhân phải chứng minh những gì nếu yêu cầu bồi thường?

Không chỉ cần chứng minh rằng "sau khi được di chuyển đi thì thương tích nặng hơn".

Về trách nhiệm bồi thường dân sự, phải làm rõ ít nhất: người cứu đã có hành vi gì; hành vi đó có trái pháp luật hay thuộc trường hợp tình thế cấp thiết; người cứu có lỗi hay không; thiệt hại thực tế là bao nhiêu; và quan trọng nhất là quan hệ nhân quả giữa hành vi di chuyển và phần thương tích được cho là phát sinh hoặc nặng thêm.

Ví dụ: Nếu hồ sơ bệnh án, kết luận chuyên môn cho thấy nạn nhân đã bị tổn thương cột sống nghiêm trọng ngay từ cú va chạm giao thông ban đầu, thì không thể mặc nhiên quy toàn bộ hậu quả cho người cứu.

Ngược lại, nếu có căn cứ chuyên môn xác định cú va chạm ban đầu chỉ gây thương tích ở mức độ nhất định, còn hành vi di chuyển sai cách của người cứu đã trực tiếp gây thêm một tổn thương độc lập, nghiêm trọng và người cứu không thực sự cần phải di chuyển theo cách đó, thì có cơ sở xem xét trách nhiệm bồi thường đối với phần thiệt hại do hành vi vượt quá gây ra.

Luật sư Phạm Văn Tuấn (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Luật sư Phạm Văn Tuấn (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Người cứu không phải "chịu trách nhiệm thay" cho người gây tai nạn

Trong tình huống này có thể tồn tại hai hành vi và hai nguồn nguy hiểm khác nhau: Người điều khiển phương tiện gây ra vụ tai nạn ban đầu; Người thứ ba đến cứu giúp nạn nhân.

Nếu người thứ ba hành động hợp lý để cứu nạn nhân mà vô tình làm phát sinh thêm thiệt hại thì cần xác định riêng trách nhiệm của từng chủ thể, không thể chỉ vì thương tích cuối cùng của nạn nhân nặng mà chuyển toàn bộ trách nhiệm sang người cứu.

Điều 590, BLDS 2015 quy định các khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần. Tuy nhiên, chỉ phần thiệt hại có căn cứ pháp lý và có quan hệ nhân quả với hành vi phải chịu trách nhiệm mới được xem xét bồi thường.

Pháp luật cũng khuyến khích người dân cứu giúp nạn nhân

Ở chiều ngược lại, pháp luật không đặt người dân vào tình thế "không dám cứu vì sợ liên lụy".

Bộ luật Hình sự quy định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Người thấy người khác đang nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết có thể bị xử lý hình sự theo Điều 132.

Đáng chú ý, từ ngày 1/9/2026, Thông tư 126/2026/TT-BCA có hiệu lực, quy định trình tự, thủ tục thực hiện các khoản chi từ Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ. Theo đó, cá nhân trực tiếp giúp đỡ, cứu chữa hoặc đưa nạn nhân đi cấp cứu có thể thuộc diện được hỗ trợ; mức hỗ trợ đối với cá nhân được quy định tối đa 5 triệu đồng/vụ việc, còn tổ chức tối đa 10 triệu đồng/vụ việc.

Điều này cho thấy chính sách không chỉ tập trung vào nạn nhân mà còn hướng tới việc khuyến khích cộng đồng tham gia cứu giúp người bị tai nạn.

Quỳnh Mai

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/cuu-nguoi-tai-nan-nhung-lam-nang-them-thuong-tich-nguoi-cuu-co-phai-boi-thuong-169260818082821694.htm