Đà Nẵng: Ba Lăng mộ cổ ở Tam Kỳ, liên quan đến dấu tích mộ Hồ Xuân Hương giai thoại lịch sử ly kỳ đầy tranh cãi
Bảo tàng Quảng Nam dựa vào văn bia và văn bản hành chính nghiệp vụ để khép hồ sơ, từ chối khai quật mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân làm công tác khảo cổ. Nhóm nghiên cứu dựa vào logic hiện trường để lật ngược vấn đề. Đây là lý do vì sao vụ án 3 lăng mộ cổ Tam Kỳ liên quan đến dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương vẫn là một một giai thoại lịch sử ly kỳ đầy tranh cãi.
Bài 1: Mai Sơn Phủ có phải là Trần Phúc Hiển người chồng thứ 2 của nữ sĩ Hồ Xuân Hương không?
Trong khuôn khổ một bài báo Nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng chỉ xin đề cập đến 4 nội dung: Ông Trần Phúc Hiển có phải là Mai Sơn Phủ? Ai là người đưa hài cốt nữ sĩ Hồ Xuân Hương từ Hồ Tây về Tam Kỳ vào thời điểm nào? Mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (nghi là dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương là mộ cải táng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay đây là mộ dài hung táng (chôn một lần) của Huỳnh Hoàn Nhân? mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị có phải mộ vợ chồng có con là Văn Dục, Văn Lập, lập bia mộ cho bố mẹ không?
Tại buổi báo cáo ngày 15/5/2025 của nhóm nghiên cứu 3 ngôi mộ cổ ở Tam Kỳ tìm dấu tích mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương, do nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng báo cáo tại Sở Văn hóa, Thể thao-Du lịch tỉnh Quảng Nam. Ông Mai Hồng Lâm, Phó Phòng Quản lý Văn hóa Sở VHTTDL nêu câu hỏi: Căn cứ nào để nhận định ông Trần Phúc Hiển có phải là Mai Sơn Phủ?
Để trả lời câu hỏi này trước hết phải trả lời câu hỏi ông Trần Phúc Hiển là ai có phải là chồng thứ 2 của sĩ Hồ Xuân Hương không?

Theo chính sử Đại Nam thực chính biên quyển 22 trang 565 và quyển 57 trang 969 do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 2007 đều chép nội dung: Trần Phúc Hiển là người đằng trong con võ tướng Trần Phúc Nhàn. Cha ông tử trân năm 1801 khi quân Nguyễn Ánh vào thành Phú Xuân. Năm 1803 Vua gia Long ban cho Trần Phúc HIển chức Hàn Lâm thị thư. Cuối năm 1813 sau khi làm tri phủ Tam Đái trấn Sơn Tây 3 năm Trần Phúc Hiển được bổ nhiệm làm Tham Hiệp Yên Quảng-Quảng Ninh. Tháng 5/1818 bị bắt vì tội nhận hối lộ 700 quan tiền.Mối quan hệ vợ chồng với nữ sĩ Hồ Xuân Hương tại trang 151, 152 sách “Quốc sử di biên” bản tiếng hán của thám hoa Phan Thúc Trực chép năm 1862 ghi rõ : “Quan xét xử là Thủ Dung xếp đặt thành án. Tham hiệp phải giam 1 năm. Tiểu thiếp của Tham hiệp trấn là Xuân Hương hay chữ lại hiểu chính sự, bấy giờ gọi là tài nữ. Tham hiệp thường sai can thiệp việc bên ngoài.Thủ Dung vẫn ghét sẵn”. Qua 2 viện dẫn trên, thân thế Tham hiệp Trần Phúc Hiển đã được nhắc đến nhưng chưa được làm sáng tỏ quê đằng trong của tử tù ở tỉnh nào, phần mộ khi qua đời ở đâu.• Soi chiếu luật Hoàng Việt. thời đó đã quy định rõ xử án tử hình “Tội tham nhũng nghiêm trọng (Chương Hộ luật và Hình luật): Quan lại nhận hối lộ, tham ô tài sản công ngân khố với số lượng lớn (từ 80 lạng bạc trở lên) tùy theo tính chất có thể bị khép vào án trảm giam hậu hoặc trảm lập quyết. Trong vụ an tử tù trân Phúc Hiển sách “Quốc tử di biên” do Phan Thúc Trực chép năm 1862, thì án Thủ Dung đã lập án Phúc Hiển bị bắt tháng 5/1818 bị giam 1 năm đến tháng 5/1819 chờ xét xử. về tội nhận hối lộ 700 quan tiền ở châu Hải Ninh. Trong thời gian này, nữ sĩ Hồ Phi Mai đã chạy đôn chạy đáo từ Bắc vào Nam kêu oan cho chồng có tết hàn thực năm 1819 , Hồ Xuân Hương đã làm bài thơ “Bánh Trôi nước” có nghĩa bóng nói về việc nữ sĩ chạy kêu oan cho chồng từ Bắc vào Nam “Ba chìm bảy nổi với nước non” , còn vụ án xử thế nào “ Rắn nát mặc dàu tay kẻ nặn”. Hồ Xuân Hương viết đơn xin ân xá, được vua Gia Long cho Phúc Hiển giảm xuống “tự xử” ( xử giảo thắt cổ): Một, được sống thêm 60 ngày. Hai, trong 60 ngày ấy, giam ở đâu cũng được, chuẩn theo ý của người làm đơn ( giam ở quê của ông Trần Phúc Hiển). Ba, đến ngày thứ 61 phải chết, bằng cách nào cũng được, tự xử lấy ( xử vào ngày 16/9 âm lịch năm 1819). Theo Trần Nhuận Minh bài “ Ông Phủ Vĩnh Tường rất nổi tiếng trong thơ Hồ Xuân Hương truyền tụng là ai?” Đăng ngày 10/4/2017 bởi Cổng thông tin điện tử Hội văn học nghệ thuật Quảng Ninh. Với viện dẫn trên nhóm nghiên cứu xác định tử tù Trần Phúc Hiển bị giam chờ xét xử tại quê của tử tù. Hình thức xử giảo (thắt cổ) ngày thi hành án 16/9 âm lịch năm 1819 hoàn toàn phù hợp với chính sử.

Nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng (bên trái) bên mộ Giày Thầy Lánh ở Tam Kỳ (Đà Nẵng).
Vậy quê của tử tù Trần Phúc Hiển ở đâu? Theo bài thơ “Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn phủ ký” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhóm nghiên cứu xác định quê hương từ tù Trần Phúc Hiển ở Đằng Trong “ Ngọn nước tam kỳ chảy lại đâu” thuộc vùng đất đất cổ Tam Kỳ ngã ba sông Tam Kỳ, Trường Giang và Bàn Thạch.
Trong tập thơ Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương có tới 5 bài gửi và họa thơ Mai Sơn phủ với nội dung hò hẹn nhớ nhung, cắt máu ăn thề duyên nợ. Vậy trong nhóm bạn thơ, bạn tình của Hồ Xuân Hương có thơ qua lại gồm những ai?
Đó là: Cần Chánh học sĩ Nguyễn Du ( pháp danh Chí Hiên) quê ở Tiên Điền ( Hoan Châu - Hà Tĩnh); Hiệp trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán quê ở Hoan Châu -Nghệ An; Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh quê ở huyện Bình Dương, trấn Gia Định (vùng đất thuộc Thành phố Hồ Chí Minh); Tốn Phong (quê ở Thạch Hà –Hoan Châu-Hà Tĩnh), Trần Phúc Hiển quê ở Đằng Trong; Mai Sơn phủ (Theo TS Phạm Trong Chánh, quê Mai Sơn Phủ ở Liên Cừ Hoan Châu-Nghệ An không có tin túc từ năm 1800. Còn Mai Sơn Phủ bạn thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở Cổ Nguyệt đường (từ năm 1811-1814) có quê ở “Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?” thuộc vùng đất Tam Kỳ ngã ba sông Tam Kỳ, Trường Giang và Bàn Thạch.
Theo nhóm nghiên cứu các bạn trai, bạn tình của Hồ Xuân Hương đều có quê quán rõ ràng, chỉ còn Trần Phúc Hiển có quê ở Đằng Trong và Mai Sơn phủ có quê ở “Ngọn nước Tam Kỳ chảy lại đâu?” Theo đó Ngọn nước Tam Kỳ là ngã ba sông Tam Kỳ- Trường Giang và Bàn Thạch, thuộc vùng đất cổ Tam kỳ, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ là tỉnh Đằng Trong. Chồng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là ông Trần Phúc Hiển quê ở Đằng Trong, Hồ Xuân Hương chỉ thề non hẹn biển cắt máu ăn thề và lấy Trần Phúc Hiển chứ không lấy Mai Sơn phủ làm chồng. Từ đó nhóm nghiên cứu đưa ra giả thiết Mai Sơn phủ chính là bí danh của ông Trần Phúc Hiển lấy chữ Mai tên chữ của Hồ Phi Mai, ghép với nơi ông Trần Phúc Hiển làm quan ở trấn Sơn Tây (ghép với chữ Sơn) và ghép với chức danh ông đang làm Tri phủ Tam Đái (ghép chữ phủ) thành Mai Sơn Phủ. Giả thiết này hoàn toàn phù hợp với quan hệ vợ chồng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với ông Trần Phúc Hiển và quê quán của ông .
Chính bài thơ “ Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký” đã đưa nhóm nghiên cứu chúng tôi về với vùng đất Tam Kỳ và nghiên cứu 3 ngôi mộ cổ Mộ Giày nghi có dấu tích mộ tử tù Trần Phúc Hiển , mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân nghi dấu tích mộ Hồ Xuân Hương vợ thiếp và phần mộ 1856 Phan Thị mộ vợ cả (nghi là mộ vợ thiếp và mộ vợ cả của tử tù Trần Phúc Hiển.
(Còn nữa)












