Đại biểu Quốc hội đề nghị xác định rõ 'biên giới' của Luật Xuất bản trên không gian mạng
Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng 9.8, Quốc hội họp phiên toàn thể, thảo luận tại hội trường về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.
Xác định rõ "biên giới" của Luật Xuất bản trên không gian mạng
Góp ý vào dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Vũ Trung (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đánh giá cao cơ quan soạn thảo khi chỉ trong thời gian rất ngắn đã tiếp thu nhiều ý kiến của đại biểu tại phiên thảo luận tổ, nhất là các nội dung bổ sung về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, trách nhiệm của nhà xuất bản và xuất bản điện tử xuyên biên giới.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên thảo luận tại hội trường về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Vũ Trung góp ý 3 vấn đề.
Thứ nhất, cần xác định rõ "biên giới" của Luật Xuất bản trên không gian mạng. Theo đại biểu, tại Điều 4 (Giải thích từ ngữ), dự thảo quy định nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng là “tác phẩm, tài liệu được tạo lập dưới hình thức tương tự xuất bản phẩm và phổ biến đến công chúng”.
Đại biểu cho rằng khái niệm “tương tự xuất bản phẩm” vẫn chưa đủ để xác định. Một báo cáo khoa học dạng PDF đưa lên kho dữ liệu mở, một cẩm nang chuyên nghiệp, một podcast hay một tài liệu trên website có thể đều mang tính chất tương tự xuất bản phẩm.
Nếu không làm rõ, ranh giới giữa xuất bản, báo chí, mạng xã hội, cơ sở dữ liệu, kho học liệu và thông tin thông thường trên internet sẽ rất khó xác định.
Đại biểu đề nghị luật thiết kế rõ 3 tầng: xuất bản phẩm; sản phẩm thông tin thực sự có tính chất xuất bản; thông tin thông thường trên internet. Đồng thời, cần loại trừ rõ bài đăng mạng xã hội, blog cá nhân, trao đổi cá nhân, dữ liệu nghiên cứu mở, thông tin nội bộ... trừ khi được tổ chức thành hoạt động xuất bản.
“Nếu không xác định được "biên giới" của xuất bản trên không gian mạng thì cơ quan quản lý khó thực thi, còn người dân và doanh nghiệp cũng không biết được lúc nào một file PDF, podcast hay một kho học liệu lại trở thành đối tượng của pháp luật xuất bản”, đại biểu nêu.

Đại biểu Nguyễn Vũ Trung phát biểu
Thứ hai, đại biểu cho rằng, cần xử lý rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc “không kiểm duyệt trước” tại Điều 5 với cơ chế tiền kiểm tại một số điều khác.
Tại Điều 5 quy định “Nhà nước không kiểm duyệt trước”, nhưng một số nội dung ở các điều khác, như Điều 22, Điều 28, có thể đang hình thành một cơ chế tiền kiểm.
Báo cáo giải trình thể hiện rõ cơ chế kiểm soát 3 lớp đối với nhóm đề tài đặc thù: nhà xuất bản thẩm định, cơ quan chủ quản phê duyệt kế hoạch và cơ quan quản lý nhà nước thẩm định lưu chiểu, cho ý kiến trước khi nhà xuất bản được phát hành.
Đồng thời, Điều 22 cũng thiết kế việc thẩm định một số bản thảo trước khi đăng ký kế hoạch xuất bản.
Đại biểu không cho rằng phải bỏ hoàn toàn tiền kiểm đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng như chủ quyền quốc gia, bản đồ, địa giới hành chính, lịch sử dân tộc, lãnh tụ, đường lối của Đảng... Tuy nhiên, đại biểu đặt vấn đề: Ai xác định danh mục? Tiêu chí nào? Thời hạn bao lâu? Cơ quan nào chịu trách nhiệm? Không trả lời đúng hạn thì nhà xuất bản có được phát hành không? Có quyền yêu cầu xem xét lại không?...
Hiện nay, nhiều nội dung quyết định bản chất của cơ chế hạn chế này lại giao Chính phủ quy định. Đây là điểm nên yêu cầu luật quy định chặt hơn.
Đại biểu đề nghị chỉ áp dụng tiền kiểm đối với một danh mục hẹp, có tiêu chí rủi ro được xác định ngay trong luật, gồm: nguyên tắc xác định rõ đặc thù; thẩm quyền yêu cầu thẩm định; thời gian tối đa; trách nhiệm cơ quan thẩm định; cơ chế xử lý khi hết hạn; quyền giải trình, yêu cầu xem xét lại của nhà xuất bản.
Đối với đa số xuất bản phẩm, phải chuyển sang nhà xuất bản tự chịu trách nhiệm, dữ liệu minh bạch, lưu chiểu điện tử, hậu kiểm theo rủi ro.
“Tôi đề nghị chúng ta không để tồn tại khoảng cách giữa nguyên tắc của Điều 5 và cơ chế vận hành của một số điều khác. Nếu gọi là hậu kiểm thì thực sự phải là hậu kiểm, còn tiền kiểm đối với nhóm đặc biệt thì chính luật phải xác định thật minh bạch, rõ ràng”, đại biểu nói.
Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế trách nhiệm của nền tảng số, đặc biệt là nền tảng xuyên biên giới.
Đại biểu đồng tình với việc dự thảo đã bổ sung nghĩa vụ về đại diện pháp lý, xác định chủ thể phát hành, gỡ bỏ nội dung vi phạm đối với tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ vào Việt Nam.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị luật quy định thêm nguyên tắc và trình tự gỡ bỏ, gồm: phải có căn cứ và chủ thể yêu cầu; có thời hạn và thông báo cho người đăng tải; có quyền giải trình hoặc khiếu nại; có cơ chế khôi phục nội dung khi yêu cầu gỡ bỏ không có căn cứ.
“Luật Xuất bản năm 2026 không nên quản lý internet như một nhánh khổng lồ, mà phải quản trị hệ sinh thái nội dung số, trong đó trách nhiệm đi theo quyền kiểm soát và mức độ rủi ro”, đại biểu nêu.
Đại biểu Nguyễn Vũ Trung cho rằng 3 vấn đề trên sẽ góp phần làm cho Luật Xuất bản lần này không chỉ là sửa Luật năm 2012, mà thực sự tạo được nền tảng pháp lý cho một hệ sinh thái xuất bản số hiện đại, có trách nhiệm và có khả năng thích ứng với công nghệ trong nhiều năm tới.
Hoàn thiện quy định về xuất bản trên không gian mạng
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị) cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Qua nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2012 và các tài liệu liên quan, để dự thảo Luật bảo đảm tính khả thi, thống nhất và phù hợp với thực tiễn, đại biểu Nguyễn Minh Tâm tham gia 3 ý kiến.
Thứ nhất, về giải thích từ ngữ tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung Điều 4), đại biểu đề nghị bổ sung quy định rõ ngay trong Luật các dấu hiệu xác định “hoạt động có tính chất xuất bản trên không gian mạng”, đồng thời làm rõ các trường hợp loại trừ, cơ chế quản lý, chủ thể chịu trách nhiệm và trình tự xử lý.
Theo đại biểu, khái niệm “nội dung có tính chất xuất bản trên không gian mạng” quy định tại khoản 18 Điều 4 của dự thảo hiện còn có phạm vi rộng nhưng chưa xác định rõ các tiêu chí nhận diện như quy mô phổ biến, tính thường xuyên, mục đích hoạt động cũng như các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh.
Điều này có thể dẫn đến khó áp dụng thống nhất và dễ chồng chéo với pháp luật về báo chí, thông tin điện tử, mạng xã hội, giao dịch điện tử, an ninh mạng và sở hữu trí tuệ.
Thực tiễn cho thấy nhiều nền tảng số như blog, kênh nội dung hoặc hệ thống học liệu đang thực hiện các hoạt động gần với xuất bản nhưng chưa được phân loại rõ ràng, thậm chí có tình trạng “xuất bản trá hình” trên môi trường mạng, phát hành nội dung có tính hệ thống nhưng không chịu sự điều chỉnh của Luật Xuất bản.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định theo hướng xác định rõ tiêu chí nhận diện ngay trong Luật và giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm linh hoạt trong quản lý.

Đại biểu Nguyễn Minh Tâm phát biểu
Thứ hai, về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản tại khoản 4 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi Điều 7), đại biểu thống nhất với quy định tại dự thảo, song đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản giáo dục, ưu tiên đầu tư số hóa sách giáo khoa, giáo trình và phát triển học liệu số, đồng thời khuyến khích xây dựng nền tảng học liệu số dùng chung.
Theo đại biểu, đề nghị này xuất phát từ thực tiễn chuyển đổi số trong giáo dục đang được triển khai mạnh mẽ. Nhiều loại hình sách giáo khoa điện tử và học liệu số đã xuất hiện nhưng hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ về khái niệm pháp lý cũng như cơ chế quản lý, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện và đầu tư của các nhà xuất bản.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị bổ sung đối tượng được ưu tiên tại điểm b khoản 1 Điều 7 gồm phụ nữ, trẻ em gái, gia đình và các nhóm yếu thế; hoặc bổ sung quy định ưu tiên đặt hàng, hỗ trợ xuất bản các xuất bản phẩm tuyên truyền về bình đẳng giới, xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ phụ nữ và trẻ em.
Đây là những chủ thể có vai trò quan trọng trong việc lan tỏa văn hóa đọc nhưng hiện chưa được đề cập đầy đủ trong dự thảo.
Đồng thời, cần bổ sung chính sách khuyến khích phát triển kho xuất bản phẩm điện tử phục vụ phụ nữ, trẻ em và gia đình, ưu tiên các nội dung về kỹ năng sống, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Qua đó, nâng cao khả năng tiếp cận tri thức, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Ngoài ra, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế bảo đảm thực hiện các chính sách tại Điều 7 theo hướng quy định nguồn lực tài chính ổn định cho hoạt động đặt hàng xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Đồng thời, nghiên cứu chính sách thuế giá trị gia tăng theo hướng áp dụng thống nhất đối với sách in, sách điện tử và sách nói. Theo đại biểu, thực tiễn thi hành cho thấy nhiều chính sách chưa được triển khai hiệu quả do thiếu cơ chế tài chính cụ thể. Bên cạnh đó, sự khác biệt về thuế giữa các loại hình xuất bản phẩm chưa tạo động lực cho chuyển đổi số và chưa bảo đảm sự bình đẳng giữa các loại hình.
Thứ ba, về người đứng đầu nhà xuất bản tại khoản 9 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung Điều 17), đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 3 Điều 17 theo hướng thay cụm từ “đồng thời là” bằng “có thể đồng thời là”, đồng thời giao cơ quan chủ quản quyết định việc kiêm nhiệm căn cứ mô hình tổ chức và yêu cầu quản trị của từng nhà xuất bản.
Theo đại biểu, quy định bắt buộc Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đồng thời là Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc nhà xuất bản chưa phù hợp với nguyên tắc phân định chức năng quản trị và điều hành theo pháp luật về doanh nghiệp nhà nước, đồng thời làm giảm tính chủ động của cơ quan chủ quản trong việc lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp.


![[VIDEO] Siêu sân bay Long Thành đón các hãng hàng không châu Á khảo sát trước ngày vận hành](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_08_09_180_55795095/5318147e5035b96be024.jpg)








