Đại biểu Quốc hội tỉnh kiến nghị nhiều điểm mới trong dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)
Sáng 19/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh tham gia thảo luận tại tổ 5 về dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi). Phiên thảo luận do Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh Quản Minh Cường điều hành.
Tổ 5 gồm Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Cao Bằng.

Đại biểu Dương Mạc Kiên, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh phát biểu.
Tại phiên thảo luận, các đại biểu tập trung đóng góp ý kiến hoàn thiện nhiều nội dung quan trọng của dự thảo luật, trọng tâm là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, nguyên tắc giải quyết, hành vi cấm, điều kiện nhận nuôi, quyền tham gia của trẻ, cũng như cơ chế hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi.
Kiến nghị siết chặt quy trình hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi
Đóng góp ý kiến vào Điều 23 của dự thảo luật, đại biểu Dương Mạc Kiên, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh nhận định, quy định về hủy bỏ, thu hồi quyết định nuôi con nuôi chưa bảo đảm tối đa lợi ích của trẻ em.
Theo khoản 2 Điều 23, khi quyết định nuôi con nuôi bị hủy bỏ hoặc thu hồi thì “không có hiệu lực từ thời điểm được ban hành”. Quy định này dẫn đến hệ quả pháp lý rất lớn khi quan hệ cha mẹ con nuôi có thể bị xóa bỏ hoàn toàn bằng một quyết định hành chính, dù trẻ đã sống với cha mẹ nuôi nhiều năm. Trong khi đó, dự thảo chưa quy định rõ trình tự, thủ tục, việc lấy ý kiến của trẻ, cha mẹ nuôi cũng như quyền khiếu nại, khởi kiện của các bên.
Đại biểu chỉ ra sự bất hợp lý trong thủ tục: việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi bắt buộc trẻ từ đủ 7 tuổi phải đồng ý bằng văn bản (Điều 21), còn việc chấm dứt nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Tòa án theo thủ tục tố tụng (Điều 28). Việc hủy bỏ quyết định nuôi con nuôi lại do cơ quan hành chính tự quyết định mà không cần hỏi ý kiến của trẻ. Đại biểu nhận định quy định này chưa phù hợp với tinh thần Điều 14 và Điều 37 của Hiến pháp về hạn chế quyền con người và bảo vệ quyền trẻ em.
Từ những cơ sở này, đề nghị tách hai biện pháp: thu hồi chỉ áp dụng khi chưa giao nhận con nuôi, do cơ quan hành chính thực hiện; hủy bỏ khi đã giao nhận con nuôi thì giao cho Tòa án quyết định, thống nhất với Điều 28. Kiến nghị quy định ngay trong luật việc bắt buộc lấy ý kiến của trẻ từ đủ 7 tuổi và của cha mẹ nuôi trước khi hủy bỏ, thu hồi. Bắt buộc có phương án chăm sóc thay thế cho trẻ trước khi ra quyết định, nhất là với trẻ không xác định được cha mẹ đẻ.
Đề cao nguyên tắc “lợi ích tốt nhất của trẻ em” và bổ sung hành vi bị cấm
Thảo luận về dự thảo luật, đại biểu Đoàn Thị Lê An, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện luật nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo vệ trẻ em và quá trình chuyển đổi số.

Đại biểu Đoàn Thị Lê An, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh phát biểu thảo luận.
Đánh giá về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi (Điều 4), đại biểu ghi nhận việc đặt nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất của trẻ em” lên vị trí hàng đầu. Tuy nhiên, khái niệm này còn mang tính định tính, chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể. Đại biểu nhấn mạnh điều kiện kinh tế không thể coi là căn cứ duy nhất để quyết định cho nhận con nuôi.
Theo đó, đại biểu đề xuất bổ sung quy định: việc xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em phải dựa trên độ tuổi, mức độ trưởng thành, tình trạng sức khỏe, nhu cầu chăm sóc, giáo dục, sự gắn bó tình cảm, nguyện vọng của trẻ, cùng các yếu tố về ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc và điều kiện phát triển toàn diện.
Về các hành vi bị cấm (Điều 5), đại biểu đề nghị làm rõ các hành vi mua bán, môi giới dưới hình thức cho nhận con nuôi; hành vi cưỡng ép, lừa dối cha mẹ đẻ hoặc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn để cho nhận con nuôi trái pháp luật. Đồng thời, cần bổ sung quy định cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để đưa trẻ em ra nước ngoài trái pháp luật hoặc thực hiện hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Minh bạch hóa điều kiện nhận nuôi và mở rộng quyền tham gia của trẻ em
Về đối tượng và điều kiện nhận nuôi (Điều 13), đại biểu Đoàn Thị Lê An lưu ý việc thu hẹp quá mức đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi. Cần làm rõ mối quan hệ giữa việc nhận con nuôi và các biện pháp chăm sóc thay thế. Đại biểu đề nghị nghiên cứu mở rộng phạm vi đối tượng tại Điều 13 theo hướng: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, không được hoặc không thể tiếp tục được cha mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng và việc nhận làm con nuôi được xác định là giải pháp phù hợp nhất nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em”.
Về điều kiện của người nhận con nuôi (Điều 14), đại biểu nhấn mạnh đây là một trong những điều khoản quan trọng nhất của dự thảo. Đại biểu ghi nhận điểm tiến bộ tại khoản 3 Điều 14 khi đã bổ sung các trường hợp không được nhận con nuôi liên quan đến tiền án, hành vi bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và các vi phạm khác. Tuy nhiên, đại biểu cũng chỉ ra một số điểm hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện: các điều kiện về kinh tế và chỗ ở chưa được lượng hóa hoặc xác định tiêu chí đánh giá phù hợp; khái niệm “tư cách đạo đức tốt” chưa có tiêu chí đánh giá rõ ràng; cơ chế xác minh điều kiện của người nhận con nuôi chưa thực sự cụ thể, đặc biệt là việc kiểm tra tiền án, hành vi bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 14 quy định: “Việc đánh giá điều kiện kinh tế, chỗ ở của người nhận con nuôi phải căn cứ vào khả năng thực tế bảo đảm nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển của trẻ em; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, không phân biệt đối xử vì hoàn cảnh kinh tế, dân tộc hoặc địa bàn cư trú". Đồng thời, cần giao Chính phủ quy định cụ thể việc đánh giá điều kiện nhận con nuôi, bảo đảm công khai, minh bạch và khả thi trong triển khai thực hiện.
Về quyền tham gia ý kiến của trẻ em (Điều 21), đại biểu kiến nghị bổ sung quy định bảo đảm trẻ em dưới 7 tuổi cũng được cung cấp thông tin và tạo điều kiện bày tỏ ý kiến. Đồng thời, cần triển khai các biện pháp hỗ trợ ngôn ngữ phù hợp cho trẻ em là người dân tộc thiểu số chưa thành thạo tiếng Việt.
Về công tác giám sát sau khi giao nhận con nuôi (Điều 22), đại biểu đề xuất kéo dài thời gian theo dõi đối với các trường hợp đặc biệt. Bên cạnh đó, dự thảo cần quy định rõ cơ chế phối hợp liên ngành nhằm chủ động phát hiện và kịp thời bảo vệ trẻ em khi có dấu hiệu bị bạo lực hoặc xâm hại.
