Đại biểu Trần Văn Tuấn: Hoàn thiện thủ tục tự nguyện nhận tội để tránh oan, sai
Chiều 27/10, tham gia thảo luận về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đồng chí Trần Văn Tuấn, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Bắc Ninh, đề nghị quy định chặt chẽ về thủ tục đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc tránh oan, sai.
Đồng chí Trần Văn Tuấn nhất trí với việc bổ sung chế định giải quyết vụ án đối với trường hợp bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt được đề nghị. Theo đồng chí, đây là bước đổi mới cần thiết, góp phần thực hiện chính sách khoan hồng, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án và tiết kiệm nguồn lực trong hoạt động tư pháp.

Đồng chí Trần Văn Tuấn phát biểu thảo luận.
Tuy nhiên, do chế định này liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền bào chữa và trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, đồng chí đề nghị quy định chặt chẽ hơn một số nội dung tại Chương 31, bảo đảm thủ tục được rút gọn nhưng vẫn xác định đầy đủ sự thật khách quan của vụ án.
Góp ý về khoản 3 Điều 454, đồng chí đề nghị khẳng định rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm không thay đổi khi bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội. Đồng chí nhất trí với quy định lời nhận tội không được coi là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội và phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra trường hợp lời nhận tội mâu thuẫn với chứng cứ, còn chứng cứ gỡ tội chưa được xem xét hoặc những tình tiết quan trọng chưa được làm rõ.
Nếu chỉ căn cứ vào sự nhận tội và đồng ý với hình phạt để áp dụng thủ tục đặc biệt thì nguy cơ oan, sai vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, đồng chí đề nghị bổ sung quy định: Khi lời nhận tội mâu thuẫn với chứng cứ, có chứng cứ gỡ tội chưa được kiểm tra, đánh giá hoặc còn tình tiết quan trọng chưa được làm rõ, cơ quan tiến hành tố tụng phải tiếp tục xác minh trước khi áp dụng thủ tục này.
Đồng thời, cần khẳng định việc tự nguyện nhận tội không làm giảm trách nhiệm chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố tụng; hình phạt được đề nghị phải có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết liên quan.
Đối với Điều 455, đồng chí Trần Văn Tuấn cho rằng cần bảo đảm bị can, bị cáo thực sự hiểu rõ và tự nguyện khi nhận tội, chấp nhận hình phạt. Việc được giải thích không đồng nghĩa với việc đã hiểu đầy đủ, nhất là khi việc lựa chọn thủ tục này có thể làm hạn chế quyền kháng cáo trong một số trường hợp. Bị can, bị cáo có thể nhận tội do thiếu hiểu biết, chịu áp lực tâm lý hoặc chưa nhận thức đầy đủ căn cứ xác định tội danh và hình phạt.
Vì vậy, đồng chí đề nghị quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm người bị buộc tội được tiếp cận tài liệu, chứng cứ cần thiết, trao đổi với người bào chữa và có thời gian hợp lý để cân nhắc trước khi quyết định. Việc xác nhận tính tự nguyện phải bảo đảm thực chất, không chỉ dừng ở thủ tục lập biên bản.
Góp ý về khoản 2 Điều 456 và khoản 2 Điều 458, đồng chí đề nghị bắt buộc có sự tham gia của người bào chữa khi lập biên bản nhận tội và cam kết chấp nhận hình phạt. Theo đồng chí, người chứng kiến và người bào chữa có chức năng khác nhau. Người chứng kiến xác nhận hoạt động tố tụng, còn người bào chữa có trách nhiệm tư vấn, phân tích chứng cứ, giải thích tội danh, hình phạt và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Trong khi đó, việc nhận tội và chấp nhận hình phạt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến số phận pháp lý của một con người. Vì vậy, sự tham gia của người bào chữa là một bảo đảm quan trọng để hạn chế nguy cơ nhận tội không đúng, nhận tội thay người khác hoặc chấp nhận hình phạt khi chưa hiểu rõ hậu quả.
Đồng chí đề nghị cần sửa điều khoản này, quy định rõ việc lập các biên bản nhận tội và cam kết chấp nhận hình phạt phải có sự tham gia của người bào chữa; trường hợp bị can chưa có người bào chữa thì phải bảo đảm quyền lựa chọn hoặc chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật trước khi tiến hành thủ tục.
Đối với khoản 3 Điều 458 và Điều 460, đồng chí đề nghị làm rõ hậu quả pháp lý khi bị can, bị cáo thay đổi ý chí, rút lại cam kết nhận tội hoặc không còn chấp nhận hình phạt được đề nghị. Theo đó, cần phân biệt trường hợp bị cáo vẫn thừa nhận hành vi phạm tội nhưng không đồng ý với mức hình phạt và trường hợp rút lại lời nhận tội; việc thay đổi ý chí không mặc nhiên được coi là tình tiết bất lợi cho bị cáo.

Các đại biểu dự phiên thảo luận chiều 27/10.
Đồng chí đề nghị quy định rõ quyền rút lại cam kết trước khi Tòa án ra bản án; trường hợp không còn đủ điều kiện áp dụng thủ tục đặc biệt thì chuyển sang giải quyết theo thủ tục tố tụng chung. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần làm rõ lý do thay đổi ý chí, độc lập đánh giá chứng cứ, tính tự nguyện và tính hợp pháp của cam kết, không bị ràng buộc bởi mức hình phạt do Viện Kiểm sát đề nghị.
Đồng chí Trần Văn Tuấn nhấn mạnh, hiệu quả của thủ tục giải quyết vụ án đối với trường hợp tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt không chỉ được đánh giá bằng việc rút ngắn thời gian giải quyết, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và bảo vệ đầy đủ quyền của người bị buộc tội.
Đồng chí đề nghị Ban soạn thảo tiếp thu, rà soát, hoàn thiện các quy định, bảo đảm thống nhất với những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, nhất là nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm và quyền bào chữa.

