Đàn môi của người Hrê thay lời tỏ tình giữa đại ngàn
Với người Hrê ở Quảng Ngãi, đàn Ra ngói không chỉ là một nhạc cụ. Trong những đêm hẹn hò giữa núi rừng, tiếng đàn từng thay lời trai gái gửi gắm tình cảm, đối đáp với nhau cho đến tận khuya.
Mượn tiếng đàn nói hộ lòng mình
Ở tuổi 81, già làng Phạm Văn Nguyên, thôn Ba Thành, xã Ba Động, vẫn nhớ rõ những đêm trai gái Hrê hẹn hò bên bếp lửa, khi tiếng đàn Ra ngói vang lên giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng.
Ngày ấy, có những điều khó nói thành lời, người ta gửi vào tiếng đàn.
“Trai gái thương nhau thì lấy đàn Ra ngói ra thổi. Đàn ông thổi trước, đàn bà đáp lại. Hai bên ngồi đối diện, cứ thế xướng họa hàng giờ, có khi thâu đêm. Chỉ cần nghe nhịp điệu là hiểu lòng nhau. Nếu không hợp cái bụng thì tiếng đàn cũng chẳng thể hòa được”, già Nguyên kể.

Ở vào cái tuổi xưa nay hiếm già làng Phạm Văn Nguyên vẫn dành trọn tình yêu cho tiếng đàn môi. Ảnh: T.P
Đàn Ra ngói, còn gọi là đàn môi, là nhạc cụ quen thuộc trong đời sống văn hóa của đồng bào Hrê. Tiếng đàn thường hòa cùng các làn điệu ta lêu, ca chôi trong sinh hoạt cộng đồng, lễ hội và đặc biệt từng gắn với chuyện giao duyên của trai gái.
Cấu tạo đàn khá đơn giản. Một thanh gỗ tốt ôm lấy phần “lưỡi gà” làm bằng thép hoặc đồng. Tuy nhiên, để tạo được tiếng đàn trong, vang và có độ ngân lại không hề dễ.
Theo già Nguyên, công đoạn khó nhất là chế tác lưỡi gà. Bộ phận này phải có độ mỏng và đàn hồi vừa đủ. Nếu làm quá dày, âm thanh trở nên đục, nặng; nếu quá mỏng, tiếng đàn lại thiếu độ ngân.
Ở tuổi “xưa nay hiếm”, mỗi khi nhắc đến Ra ngói, ánh mắt ông vẫn ánh lên niềm vui. Ông say sưa kể về cách chọn vật liệu, làm đàn, giữ hơi và những câu chuyện tình yêu của người Hrê từng được gửi qua thứ âm thanh nhỏ bé ấy.
Khi chơi, người diễn tấu đặt đàn sát môi, một tay giữ thân đàn, tay kia gảy vào lưỡi gà. Âm thanh được tạo ra từ sự rung động của thanh kim loại, sau đó biến đổi nhờ hơi thở, môi, lưỡi và khoang miệng của người chơi.
Bởi vậy, dù nhỏ gọn, Ra ngói không phải loại nhạc cụ có thể học trong ngày một ngày hai.
Anh Phạm Văn Lam, một trong số ít người còn biết chơi đàn, cho biết người học phải luyện nhiều nhất ở cách điều tiết hơi thở. “Khi kiểm soát được hơi, người chơi mới phối hợp được môi, lưỡi và khoang miệng, từ đó biến những rung động rất nhỏ của lưỡi đàn thành nhiều sắc thái âm thanh khác nhau”, anh Lam nói.
Chính khả năng biến đổi âm thanh ấy từng khiến Ra ngói trở thành một phương tiện đặc biệt để trai gái Hrê “trò chuyện” với nhau mà không cần nói thành lời.

Đàn môi là nhạc cụ mang ý nghĩa kết nối tình yêu đôi lứa trong đời sống của đồng bào Hrê. Ảnh: T.P
Khi tiếng đàn đứng trước nguy cơ thưa vắng
Từng hiện diện quen thuộc trong đời sống cộng đồng, nhưng không gian dành cho đàn Ra ngói đang dần thu hẹp.
Những đêm giao duyên bằng tiếng đàn giờ chỉ còn trong ký ức của nhiều người lớn tuổi. Người biết chế tác và chơi đàn thành thạo ngày một ít, trong khi lớp trẻ không còn nhiều người mặn mà với loại nhạc cụ này.
Với già làng Phạm Văn Nguyên, đó là điều khiến ông trăn trở nhất.
Theo ông, đàn Ra ngói vốn đã khó học, trong khi môi trường sử dụng nhạc cụ không còn như trước. Thanh niên có nhiều hình thức giải trí mới, chuyện trai gái tìm hiểu nhau cũng không còn cần mượn đến tiếng đàn.
“Điều chúng tôi mong nhất là có thêm thanh niên yêu tiếng đàn của dân tộc mình, chịu học cách làm và cách chơi. Phải có người trẻ tiếp nối thì tiếng Ra ngói mới còn vang”, già Nguyên nói.
Nghệ nhân Phạm Thị Đế cũng dành nhiều thời gian để gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người Hrê.
Mỗi khi có dịp, bà lại mang đàn Ra ngói ra biểu diễn. Ở trong làng, bà thường trò chuyện với thanh, thiếu niên, sẵn sàng truyền dạy cách chơi đàn cũng như những làn điệu ta lêu, ca chôi cho người muốn học.
Theo bà, bảo tồn Ra ngói không chỉ là giữ lại một nhạc cụ mà còn gìn giữ cả một phần đời sống tinh thần của cộng đồng Hrê. Bởi phía sau tiếng đàn là cách người Hrê giao tiếp, bày tỏ tình cảm và kết nối với nhau qua nhiều thế hệ.

Già làng Phạm Văn Nguyên chia sẻ về cách chơi đàn Ra ngói. Ảnh: T.P
Nhạc sĩ Phạm Minh Đát cho rằng giá trị đặc biệt của đàn Ra ngói nằm ở kỹ thuật diễn tấu cũng như không gian văn hóa mà nhạc cụ này đại diện.
Theo ông, với những nét độc đáo riêng, Ra ngói có thể được nghiên cứu, lập hồ sơ đề nghị đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
“Nếu được công nhận, đây sẽ là cơ sở quan trọng để triển khai những giải pháp thiết thực hơn trong việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị của nhạc cụ truyền thống này”, nhạc sĩ Phạm Minh Đát nhận định.

Già làng Phạm Văn Nguyên thổi đàn môi. Ảnh: T.P
Bà Phạm Thị Minh Đôi, Phó Chủ tịch UBND xã Ba Động, cho biết địa phương thời gian qua đã duy trì các mô hình bảo tồn văn hóa gắn với không gian sinh hoạt cộng đồng tại các khu dân cư.
Các nghệ nhân được khuyến khích truyền dạy cho thế hệ trẻ; các đội văn nghệ ở thôn, làng được tạo điều kiện tham gia liên hoan, ngày hội văn hóa nhằm duy trì môi trường thực hành các loại hình nghệ thuật truyền thống.
Nhưng với đàn Ra ngói, có lẽ điều quyết định vẫn là có người trẻ muốn cầm cây đàn lên hay không.
Bởi một nhạc cụ chỉ thực sự sống khi còn người biết chơi và còn người muốn lắng nghe. Với những già làng như Phạm Văn Nguyên, mong ước ấy rất giản dị: để một ngày nào đó, giữa núi rừng Hrê, tiếng đàn nhỏ bé từng nói hộ bao lời yêu thương vẫn còn ngân lên.

