Đánh thức giá trị vùng hồ, đập trũng bằng nghề nuôi trai lấy ngọc
Từ những vùng hồ, đầm trũng tưởng như khó khai thác, nhiều hộ tại Hà Tĩnh đang thử nghiệm hướng sản xuất mới khi đưa giống và kỹ thuật nuôi cấy ngọc trai từ Phú Quốc về địa phương.
Ghi nhận tại đập Yên Vũ, xã Đông Kinh, tỉnh Hà Tĩnh, một mô hình nuôi trai lấy ngọc đang được triển khai trên quy mô hàng chục hecta mặt nước.

70ha mặt nước tự nhiên tại đập Yên Vũ được công ty thuê để nuôi trai lấy ngọc
Khu vực đập có diện tích hơn 100ha. Sau quá trình khảo sát nguồn nước và điều kiện môi trường, từ tháng 7.2024, ông Hồ Phi Thủy, Giám đốc Công ty Ngọc trai Quê Choa, đã đầu tư hệ thống lồng bè, triển khai nuôi trai lấy ngọc trên hơn 70ha mặt nước.
Điểm đáng chú ý là giống và quy trình kỹ thuật được đưa từ Phú Quốc về áp dụng tại Hà Tĩnh. Sau hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi, cấy ngọc trai tại Phú Quốc, ông Thủy đưa kinh nghiệm tích lũy được về quê, từng bước xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa phương.

Anh Hồ Phi Pha bên đập nuôi đã thả sang lứa thứ 2
Doanh nghiệp đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo lao động tại chỗ, hướng dẫn các công đoạn từ lựa chọn con giống, cấy nhân, chăm sóc đến theo dõi, kiểm soát môi trường nước.
Theo anh Hồ Phi Pha, cán bộ kỹ thuật Công ty Ngọc trai Quê Choa, đến tháng 7.2026, mô hình đã thu hoạch khoảng 2 tạ trai. Sau khi tách, ngọc được đưa vào Phú Quốc để làm sạch, phân loại theo kích thước, hình dáng, độ bóng, màu sắc trước khi chế tác thành trang sức và quà tặng.

Theo anh Pha, giống trai lấy ngọc rất hợp khí hậu tại Hà Tĩnh
Mô hình hiện tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 10-15 lao động địa phương, với mức thu nhập khoảng 15 triệu đồng/người/tháng. Vào thời điểm cao điểm vệ sinh lồng bè, chăm sóc và thu hoạch, doanh nghiệp sử dụng thêm hàng chục lao động thời vụ.
“Từ hiệu quả của dự án, công ty dự kiến xây dựng trại giống ngay tại xã Đông Kinh”, anh Pha cho biết.
Tuy bước đầu cho kết quả, song nuôi trai lấy ngọc không phải mô hình có thể mang lại hiệu quả trong thời gian ngắn. Một vụ nuôi kéo dài khoảng 2,5 năm, đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì nhân lực, kỹ thuật và nguồn vốn trong thời gian dài trước khi có thể đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế.

Những con trai hơn 1 năm tuổi
Theo anh Hồ Phi Pha, trai nước ngọt chủ yếu sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong hồ như tảo và các chất hữu cơ có sẵn. Điều kiện môi trường tại khu vực đập Yên Vũ được đánh giá khá phù hợp với đối tượng nuôi này.
Trai có khả năng chịu nhiệt tương đối tốt, song thời điểm giao mùa, mưa lớn và bão lũ vẫn là những yếu tố cần đặc biệt lưu ý bởi có thể gây hao hụt. Hiệu quả kinh tế của mô hình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỉ lệ trai tạo ngọc, chất lượng ngọc, chi phí đầu tư, thời gian nuôi và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, kết quả từ những vụ thu hoạch đầu tiên mới chỉ là cơ sở ban đầu để doanh nghiệp tiếp tục khảo nghiệm, hoàn thiện quy trình và đánh giá khả năng nhân rộng.

Số lượng ngọc trai được Công ty thu hoạch vào vụ đầu tiên
Thực tế tại Đông Kinh cho thấy, những viên ngọc được tạo ra từ vùng nước Hà Tĩnh hiện vẫn phải đưa về Phú Quốc để làm sạch, phân loại và chế tác. Doanh nghiệp chưa có địa điểm để xây dựng khu chế tác, trưng bày, quảng bá và bán sản phẩm tại chỗ.
Việc chủ yếu tiêu thụ ngọc ở dạng thô khiến phần giá trị gia tăng được tạo ra tại Hà Tĩnh còn hạn chế. Nếu chỉ dừng lại ở khâu nuôi và bán ngọc thô, lợi thế về mặt nước mới được khai thác ở một phần giá trị. Ngược lại, việc hình thành chuỗi liên kết từ con giống, nuôi cấy, thu hoạch, phân loại đến chế tác, trưng bày và tiêu thụ sẽ quyết định khả năng nâng cao giá trị của sản phẩm.

Theo đại diện Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh, ngoài mô hình của Công ty Ngọc trai Quê Choa, tại địa phương, nhiều hộ nuôi cũng đã nuôi thử nghiệm giống trai lấy ngọc, bước đầu nhìn chung đều cho kết quả khả quan.
Chính vì vậy, những xã, phường trên toàn tỉnh có lợi thế về ao hồ cần nghiên cứu, định hướng và hỗ trợ các chủ thể có đủ tiềm lực về kinh tế, nhân lực đầu tư phát triển nghề nuôi trai nước ngọt lấy ngọc. Cùng với mở rộng diện tích, cần tiếp tục nâng cao chất lượng con giống, hoàn thiện kỹ thuật nuôi, nâng tỉ lệ trai tạo ngọc và chất lượng sản phẩm, tạo sinh kế bền vững.

