Đánh thuế đất bỏ hoang: Đại biểu lo người dân bị 'vạ lây' vì những nguyên nhân khách quan

Đồng tình đánh thuế 0,2% để chống đầu cơ, găm giữ đất, song nhiều đại biểu Quốc hội cảnh báo nguy cơ người dân phải chịu thuế oan nếu không phân định rõ nguyên nhân đất bỏ hoang.

Thảo luận tại hội trường ngày 6/11 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 luật về thuế, chính sách đánh thuế đối với đất bỏ hoang nhận được sự quan tâm của nhiều đại biểu.

Các ý kiến thống nhất sử dụng công cụ thuế để hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ đất, gây lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, cách xác định đất bỏ hoang, diện tích chịu thuế và những trường hợp được loại trừ cần được quy định chặt chẽ để tránh thiếu công bằng khi thực hiện.

Không thể đánh thuế cả phần đất đã được sử dụng

Góp ý về việc bổ sung khoản 8 Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) đồng tình áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng và không áp dụng hạn mức. Theo đại biểu, đây là giải pháp cần thiết nhằm hạn chế đầu cơ, găm giữ đất đai, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Tuy nhiên, ông Huy lưu ý thực tế có những thửa đất diện tích lớn với tình trạng sử dụng không đồng nhất: một phần đã được đưa vào sử dụng, phần khác chưa sử dụng. Đối với các dự án triển khai theo từng giai đoạn, có hạng mục đã hoàn thành nhưng những hạng mục khác vẫn đang tiếp tục thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Văn Huy, Đoàn Hưng Yên phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Nguyễn Văn Huy, Đoàn Hưng Yên phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn

Nếu chỉ căn cứ vào tình trạng chung của cả thửa đất hoặc dự án để áp dụng thuế suất 0,2%, phần diện tích đã được sử dụng đúng mục đích cũng có thể bị tính thuế ở mức này. Đại biểu cho rằng cách áp dụng như vậy không hợp lý.

Do đó, ông Huy đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định rõ diện tích chịu thuế. Theo đó, trường hợp một thửa đất có nhiều phần diện tích với tình trạng sử dụng khác nhau, thuế suất 0,2% chỉ áp dụng đối với phần diện tích thực tế bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Phần diện tích đã được đưa vào sử dụng hợp pháp phải áp dụng mức thuế suất tương ứng theo quy định.

Đại biểu Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh, chính sách sửa đổi cần đánh đúng hành vi cần điều tiết, miễn giảm đúng đối tượng cần hỗ trợ và được tổ chức thực hiện theo cách người dân dễ hiểu, dễ thực hiện. Đây là điều kiện để chính sách thuế phát huy hiệu quả trong thực tế.

Một vấn đề khác được đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn Cần Thơ) đặt ra là dự thảo đang áp dụng một mức thuế suất 0,2% đối với các trường hợp đất bỏ hoang mà chưa phân định rõ nguyên nhân.

Theo đại biểu, cần phân biệt hành vi chủ quan như đầu cơ, tích trữ đất với những trường hợp không thể đưa đất vào sử dụng do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác. Nếu không có sự phân biệt này, chính sách có thể thiếu công bằng và chưa bảo đảm tính nhân văn.

Bà Tô Ái Vang kiến nghị bổ sung vào cuối khoản 1 Điều 2 quy định loại trừ trường hợp đất không thể đưa vào sử dụng do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác có xác nhận của UBND cấp xã.

Đặc biệt, đại biểu lưu ý thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi một số địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu. Nếu áp thuế 0,2% đối với những diện tích đất ngày càng cằn cỗi mà không xem xét nguyên nhân khách quan, người dân vốn đã gặp khó khăn có thể tiếp tục chịu thêm áp lực, ảnh hưởng đến khả năng tích lũy để tái đầu tư sản xuất.

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị Chính phủ xây dựng cơ chế miễn, giảm thuế sử dụng đất đối với đất nông nghiệp và đất nông nghiệp hoang hóa tại các địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Đồng thời, đại biểu kiến nghị có cơ chế miễn thuế, giãn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp hoang hóa đối với những địa bàn này.

“Thuế phải là công cụ điều tiết và nuôi dưỡng nguồn thu, chứ không thể là gánh nặng ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trong lúc khó khăn”, đại biểu Tô Ái Vang nhấn mạnh.

Đề nghị xác định đất bỏ hoang bằng văn bản

Cùng quan tâm đến tính công bằng và khả năng thực thi, đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) cho rằng việc áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng cần được tính toán kỹ.

Đại biểu Dương Khắc Mai, Đoàn Lâm Đồng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Dương Khắc Mai, Đoàn Lâm Đồng phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn

Theo đại biểu, khái niệm về thời hạn xác định và các trường hợp loại trừ phụ thuộc nhiều vào pháp luật về đất đai. Nếu tiêu chí chưa thống nhất, người sử dụng đất có thể bị áp dụng khác nhau giữa các địa phương.

Đáng chú ý, có những trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng không xuất phát từ lỗi của người sử dụng đất, mà do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, thủ tục điều chỉnh quy hoạch của cơ quan Nhà nước hoặc những nguyên nhân bất khả kháng khác.

Để hạn chế tình trạng này, ông Dương Khắc Mai đề nghị làm rõ khái niệm đất bỏ hoang, đồng thời quy định việc áp dụng thuế suất 0,2% chỉ được thực hiện sau khi cơ quan có thẩm quyền về đất đai xác định bằng văn bản tình trạng và thời gian không đưa đất vào sử dụng.

Văn bản xác định cần được thông báo cho người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ giải trình.

Đại biểu cho rằng đất bỏ hoang có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần loại trừ hoặc có cơ chế xử lý phù hợp đối với những trường hợp khách quan, không do lỗi của người sử dụng đất. Đây là yếu tố quan trọng để chính sách khi triển khai bảo đảm khả thi và công bằng.

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến của đại biểu Quốc hội, phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra để nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật trước khi trình Quốc hội thông qua.

Đối với nội dung thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng cho đất bỏ hoang, Bộ trưởng cho biết Bộ Tài chính đã cân nhắc và trao đổi kỹ trong Chính phủ.

Về việc xác định diện tích đất, cụ thể là thửa đất nào thuộc diện bỏ hoang, Bộ Tài chính sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế và cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên, đất đai.

Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, trên cơ sở cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai đang được đẩy mạnh xây dựng, cơ quan thuế và cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai đang phối hợp để xác định chính xác, bảo đảm đúng mục đích, tránh tình trạng lạm dụng trốn thuế, lậu thuế cũng như lạm dụng khoản thu.

Thanh Hoa

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/danh-thue-dat-bo-hoang-dai-bieu-lo-nguoi-dan-bi-va-lay-vi-nhung-nguyen-nhan-khach-quan.html