Đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng
Phát triển điện hạt nhân, năng lượng tái tạo và các công nghệ năng lượng mới đang làm thay đổi nhu cầu nhân lực của ngành năng lượng Việt Nam. Bên cạnh mở rộng quy mô đào tạo, yêu cầu cấp thiết là nâng cao năng lực thực hành, khả năng thích ứng công nghệ và tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu việc làm.

Đại biểu tham dự Hội nghị Tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng ngành Công Thương năm học 2025 - 2026.
Nhu cầu nhân lực từ yêu cầu phát triển hệ thống năng lượng
Tại Hội nghị tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng năm 2026 do Bộ Công Thương tổ chức ngày 29/10/2026 tại Hà Nội, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, Trưởng khoa Kỹ thuật điện Trường Đại học Điện lực, trình bày tham luận về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng bền vững. Từ góc nhìn của cơ sở đào tạo, bà nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị đội ngũ nhân lực ngay từ khi xây dựng chương trình, quy hoạch và dự án năng lượng, thay vì chỉ bắt đầu đào tạo khi công trình sắp.
Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định nhiệm vụ đào tạo tối thiểu 25.000 - 35.000 kỹ sư, chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt ưu tiên năng lượng hạt nhân.
Yêu cầu chuẩn bị nhân lực được thể hiện cụ thể hơn trong lĩnh vực điện hạt nhân. Theo Quyết định số 1012/QĐ-TTg ngày 26/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ, nhu cầu nhân lực đến năm 2030 phục vụ hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 là khoảng 3.900 người. Trong đó, Ninh Thuận 1 cần 1.920 người, Ninh Thuận 2 cần 1.980 người.
Đáng chú ý, trong tổng nhu cầu trên, nhóm trình độ đại học và sau đại học có 2.070 người, chiếm khoảng 53,1%; nhóm trình độ cao đẳng có 1.830 người, tương đương 46,9%. Ngoài ra, 670 người thuộc nhóm đại học và sau đại học dự kiến được đào tạo mới ở nước ngoài, đã nằm trong tổng nhu cầu 3.900 người.
Trên bình diện quốc tế, Báo cáo World Energy Employment 2025 của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) ghi nhận khoảng 76 triệu việc làm trong ngành năng lượng toàn cầu năm 2024. Hơn một nửa trong số hơn 700 doanh nghiệp, tổ chức công đoàn và cơ sở giáo dục tham gia khảo sát phản ánh khó khăn nghiêm trọng trong tuyển dụng lao động có kỹ năng.
Cùng với đó, báo cáo của Cơ quan Năng lượng tái tạo quốc tế (IRENA) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ước tính lĩnh vực năng lượng tái tạo tạo ra khoảng 16,6 triệu việc làm trên toàn cầu năm 2024, tăng 2,3% so với năm trước. Trong đó, điện mặt trời quang điện chiếm khoảng 7,3 triệu việc làm, thủy điện 2,3 triệu và điện gió 1,9 triệu.
Từ yêu cầu đó, theo PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, phát triển nguồn nhân lực năng lượng cần giải quyết đồng thời ba nhiệm vụ: duy trì đội ngũ đủ năng lực vận hành hệ thống hiện hữu; chuẩn bị nhân lực đáp ứng yêu cầu của các dự án và công nghệ mới; từng bước phát triển đội ngũ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và quản trị nhằm nâng cao khả năng tự chủ công nghệ.

PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, Trưởng khoa Kỹ thuật điện Trường Đại học Điện lực, trình bày tham luận về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng bền vững tại Hội nghị.
Đổi mới đào tạo theo năng lực nghề nghiệp và nhu cầu doanh nghiệp
Theo PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, Trưởng khoa Kỹ thuật điện Trường Đại học Điện lực, phát triển nhân lực năng lượng cần lấy năng lực thực hiện công việc làm thước đo, đồng thời coi an toàn, độ tin cậy, hiệu quả kinh tế và trách nhiệm môi trường, xã hội là những yêu cầu xuyên suốt.
Trong tham luận về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch năng lượng bền vững, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga đề xuất sáu nhóm năng lực ưu tiên, gồm: vận hành an toàn và hiệu quả hệ thống năng lượng hiện hữu; tích hợp năng lượng tái tạo, lưới điện và lưu trữ; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; phát triển điện hạt nhân; hydrogen, nhiên liệu dẫn xuất và công nghệ năng lượng mới; năng lực số và quản trị hệ thống năng lượng.
Đối với hệ thống điện hiện đại, người học cần được trang bị kiến thức về dự báo nguồn và phụ tải, phân tích ổn định hệ thống, bảo vệ, điều khiển và phối hợp vận hành. Với hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), yêu cầu còn bao gồm lựa chọn cấu hình, quản lý trạng thái pin, đánh giá suy giảm, kiểm soát nhiệt và xử lý nguy cơ sự cố.
Trong lĩnh vực điện hạt nhân, đào tạo cần kết hợp nhiều chuyên ngành như điện, nhiệt, cơ khí, điều khiển, vật liệu và quản lý dự án. Văn hóa an toàn, khả năng tuân thủ quy trình, kiểm tra độc lập và truy xuất hồ sơ phải được hình thành trong quá trình học tập, thực hành. Người tốt nghiệp đại học vẫn cần trải qua huấn luyện và đánh giá theo yêu cầu của từng vị trí trước khi đảm nhiệm công việc chuyên môn.
Đối với hydrogen, amoniac và các công nghệ năng lượng mới, việc phát triển chương trình chuyên sâu cần gắn với tiến độ đầu tư và nhu cầu sử dụng đã được xác nhận. Theo Global Hydrogen Review 2026 của IEA, sản lượng hydrogen phát thải thấp toàn cầu năm 2025 đạt gần 1 triệu tấn, trong khi tiềm năng sản xuất vào năm 2030 từ các dự án đã công bố giảm còn khoảng 27 triệu tấn/năm do nhiều dự án bị trì hoãn hoặc hủy bỏ.
Một vấn đề khác là cơ cấu trình độ đào tạo. Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cung ứng nhân lực lắp đặt, đo kiểm, vận hành và bảo trì. Đào tạo đại học tập trung vào thiết kế, tính toán, tích hợp và phân tích hệ thống; trong khi đào tạo sau đại học phục vụ nghiên cứu chuyên sâu và phát triển công nghệ.
Tuy nhiên, chất lượng đào tạo khó được cải thiện nếu chương trình học thiếu thông tin từ thị trường lao động. Hiện nay, việc xác định chính xác nhu cầu nhân lực ngành năng lượng theo từng ngành nghề, địa bàn và thời điểm vẫn gặp khó khăn do thiếu dữ liệu cung - cầu đồng bộ. Điều này ảnh hưởng đến khả năng dự báo nhu cầu nhân lực và xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Để khắc phục hạn chế này, cơ sở đào tạo cần phối hợp với doanh nghiệp xây dựng dữ liệu nhu cầu tuyển dụng theo vị trí, trình độ, kỹ năng và thời điểm tiếp nhận. Số người đang học, đã tốt nghiệp, đạt yêu cầu nghề nghiệp và thực tế làm việc trong ngành phải được theo dõi riêng, tránh đánh đồng quy mô tuyển sinh với khả năng cung ứng nhân lực.
Sự tham gia của doanh nghiệp cũng cần bắt đầu từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế nội dung thực hành đến đánh giá kết quả học tập. Thay vì thực tập chủ yếu bằng quan sát, sinh viên cần được giao những nhiệm vụ phù hợp như phân tích hiệu suất thiết bị, xây dựng phương án bảo trì, mô hình vận hành hoặc hồ sơ đánh giá rủi ro, dưới sự hướng dẫn và giám sát của người có chuyên môn.
Cùng với đổi mới chương trình, cần tạo điều kiện để giảng viên tham gia các dự án thực tế, tiếp cận dữ liệu vận hành và phối hợp giảng dạy với chuyên gia doanh nghiệp. Đầu tư phòng thí nghiệm, mô phỏng và thiết bị thực hành phải gắn với khả năng khai thác, bảo trì và sử dụng chung giữa các chương trình, thay vì phân tán nguồn lực.
Đối với người lao động chịu tác động của chuyển dịch năng lượng, đào tạo lại cần gắn với kỹ năng có thể chuyển đổi và cơ hội việc làm cụ thể. Đây cũng là yêu cầu để quá trình chuyển dịch năng lượng vừa đáp ứng mục tiêu công nghệ, môi trường, vừa quan tâm đến việc làm và sinh kế của người lao động.

NGƯT.PGS.TS Vũ Đình Ngọ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực cùng các đại biểu dự Hội nghị Tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng ngành Công Thương năm học 2025 - 2026.
Trường Đại học Điện lực gắn đào tạo với thực tiễn, chuẩn bị nhân lực cho các lĩnh vực ưu tiên
Từ định hướng đào tạo theo năng lực nghề nghiệp, Trường Đại học Điện lực đã triển khai một số hoạt động kết nối đào tạo với doanh nghiệp và bồi dưỡng chuyên môn cho người đang làm việc. Những hoạt động này tạo cơ sở thực tiễn để Nhà trường tiếp tục hoàn thiện chương trình và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực năng lượng.
Ngày 16/3/2026, Trường phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức khóa đào tạo nâng cao năng lực kiểm toán viên năng lượng, với sự tham gia của 20 học viên đã được Bộ Công Thương cấp chứng chỉ hành nghề. Chương trình tập trung vào lập bản đồ năng lượng, xây dựng sơ đồ năng lượng, nghiên cứu tính khả thi và phân tích tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng.
Ở cấp đại học, ngày 19/10/2026, Khoa Quản lý Công nghiệp và Năng lượng tổ chức cho sinh viên khóa D18 ngành Quản lý năng lượng tham gia thực tập vận hành tại Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại. Sinh viên được tìm hiểu quy trình sản xuất điện, các thiết bị chính, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và công tác vận hành nhà máy trong điều kiện thị trường điện.
Bên cạnh hoạt động đào tạo, ngày 13/10/2026, Trường Đại học Điện lực chính thức ra mắt Cổng thông tin kết nối việc làm EJOB, tạo thêm kênh cung cấp thông tin thực tập, tuyển dụng và kết nối sinh viên với doanh nghiệp.
Theo đề xuất trong tham luận của PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga, nền tảng này có thể được khai thác sâu hơn để thu thập nhu cầu nhân lực theo vị trí, kỹ năng, trình độ và thời điểm tuyển dụng; đồng thời theo dõi kết quả thực tập, đánh giá và việc làm phù hợp của người học.
Từ thực tiễn đào tạo và yêu cầu phát triển ngành năng lượng, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga đề xuất Trường Đại học Điện lực ưu tiên ba hướng triển khai.
Hướng thứ nhất là phát triển các chương trình về hệ thống điện hiện đại, tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ, trên cơ sở kết nối chuyên môn giữa kỹ thuật điện, tự động hóa, điện tử và công nghệ số.
Hướng thứ hai tập trung nâng cao chất lượng đào tạo quản lý năng lượng, kiểm toán năng lượng và tối ưu vận hành tại các cơ sở sử dụng năng lượng.
Hướng thứ ba là chuẩn bị đội ngũ giảng viên và các mô-đun đào tạo phục vụ điện hạt nhân. Theo định hướng này, Nhà trường cần ưu tiên củng cố nền tảng chuyên môn, phát triển văn hóa an toàn, tăng cường hợp tác thực hành và từng bước chuẩn bị năng lực đào tạo chuyên sâu phù hợp với nhu cầu thực tế.
Đối với hydrogen, amoniac và những công nghệ mới chưa hình thành nhu cầu nhân lực ổn định, tham luận đề xuất ưu tiên nghiên cứu, học phần chuyên đề, mô phỏng và bồi dưỡng giảng viên trước khi xem xét đầu tư thiết bị hoặc mở rộng đào tạo chuyên biệt.
Về lộ trình triển khai, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga đề xuất trong quý IV/2026, Trường Đại học Điện lực rà soát chương trình đào tạo và nhu cầu của các đối tác trong những lĩnh vực ưu tiên; sáu tháng đầu năm 2027 hoàn thiện thiết kế chương trình, điều kiện thực hành và phương án nguồn lực. Từ năm học 2027 - 2028, Nhà trường dự kiến thí điểm các mô-đun, học phần hoặc khóa bồi dưỡng đáp ứng đủ điều kiện, tiến hành đánh giá chất lượng đào tạo và khả năng tiếp nhận của doanh nghiệp trước khi xem xét mở rộng quy mô.
Để những định hướng này đi vào thực tế, PGS.TS. Vũ Thị Thu Nga kiến nghị đưa kế hoạch nhân lực vào quá trình chuẩn bị các chương trình, dự án năng lượng; phát triển mạng lưới đào tạo theo thế mạnh của từng cơ sở; hoàn thiện cơ chế đồng đầu tư, đặt hàng đào tạo và chuyển giao công nghệ; đồng thời gắn đào tạo lại với cơ hội việc làm của người lao động.
Vấn đề cốt lõi là xác định rõ người học sẽ đảm nhiệm công việc gì, cần những năng lực nào và được đánh giá bằng tiêu chí gì. Khi nhu cầu của doanh nghiệp trở thành căn cứ xây dựng chương trình, thực hành gắn với môi trường làm việc và chất lượng đầu ra được kiểm chứng, hoạt động đào tạo sẽ đóng góp thiết thực hơn vào năng lực vận hành, phát triển công nghệ và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.


