Đất bỏ hoang, chậm sử dụng được đề xuất chịu thuế suất 0,2%
Toàn bộ diện tích đất được xác định là bỏ hoang, chậm hoặc không đưa vào sử dụng được đề xuất áp dụng thuế suất 0,2%, thay vì tính thuế theo các mức gắn với hạn mức như đối với đất ở.

Hình ảnh tại buổi họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Tài chính. (Ảnh: Ban tổ chức)
Tại họp báo thường kỳ quý III/2026 của Bộ Tài chính chiều 6/10, ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính đã trình Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, trong đó có Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất bổ sung chính sách thuế đối với đất bỏ hoang, đất chậm hoặc không đưa vào sử dụng.
Theo phương án được xây dựng, thuế suất 0,2% sẽ áp dụng đối với toàn bộ diện tích đất thuộc các trường hợp này, không áp dụng hạn mức.
So với biểu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành, mức 0,2% tương đương thuế suất đang áp dụng đối với đất lấn, chiếm và cao hơn các mức áp dụng đối với đất ở.

Ông Trương Bá Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính).
Cụ thể, đất ở trong hạn mức hiện chịu thuế suất 0,03%; phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức chịu thuế suất 0,07%; phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức chịu thuế suất 0,15%. Đất sử dụng không đúng mục đích cũng chịu thuế suất 0,15%.
Đề xuất bổ sung mức thuế đối với đất bỏ hoang, chậm hoặc không đưa vào sử dụng nhằm thể chế hóa các chủ trương liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, trong đó có Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Cùng với mức thuế, một vấn đề được đặt ra là căn cứ nào để xác định một khu đất thuộc diện bỏ hoang, chậm hoặc chưa đưa vào sử dụng.
Theo ông Trương Bá Tuấn, đây là nội dung đã được nghiên cứu trong quá trình xây dựng chính sách. Tại Thông báo số 289 ngày 28/9, lãnh đạo Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, làm rõ tiêu chí, khái niệm xác định đất bỏ hoang trong hệ thống pháp luật về đất đai, làm căn cứ áp dụng chính sách thuế.
Lãnh đạo Chính phủ đã giao cơ quan quản lý nhà nước về đất đai nghiên cứu, làm rõ các tiêu chí, khái niệm liên quan trong các văn bản pháp luật về đất đai, tạo cơ sở xác định đúng đối tượng áp dụng nếu chính sách thuế được thông qua.
Gỡ vướng từ dữ liệu đến thủ tục thuế
Cùng với việc hoàn thiện chính sách, những vướng mắc trong quá trình thực hiện thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cũng được Bộ Tài chính làm rõ tại họp báo.

Ông Lê Long, Phó Cục trưởng Cục Thuế. (Ảnh: Ban tổ chức)
Liên quan phản ánh một số người dân vẫn nhận thông báo thuế dù đã nộp hoặc đất đã có biến động về người sử dụng, ông Lê Long, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết, một trong những nguyên nhân là việc liên thông dữ liệu giữa các cơ quan.
Cơ quan thuế chỉ là một khâu trong quá trình thực hiện các thủ tục, nghĩa vụ liên quan đến đất đai. Trường hợp chuyển nhượng nhưng thủ tục chưa hoàn tất, chưa chuyển tên từ người cũ sang người mới và thông tin chưa được chuyển đến cơ quan thuế, dữ liệu vẫn ghi nhận người cũ đứng tên trên thửa đất. Vì vậy, thông báo nghĩa vụ thuế vẫn có thể được gửi tới người này.
“Nếu việc liên thông tốt, dữ liệu của người đứng tên mới trên mảnh đất đã được chuyển sang cơ quan Thuế, tôi tin rằng việc vẫn ghi nhận nghĩa vụ của người cũ sẽ không còn xảy ra”, ông Lê Long cho biết.
Ngoài ra, có trường hợp người dân đã nộp thuế nhưng trong năm vẫn nhận được thông báo do độ trễ trong quá trình ghi nhận dữ liệu trên hệ thống. Cục Thuế đề nghị người dân phản ánh những trường hợp này qua Cổng thông tin điện tử của cơ quan Thuế, Bộ Tài chính, ứng dụng eTax Mobile hoặc các kênh tiếp nhận để được kiểm tra, xử lý.
Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Đức Chi cho rằng, khi người dân đã chuyển nhượng, chuyển quyền sở hữu và sử dụng theo quy định nhưng cơ quan Thuế vẫn căn cứ dữ liệu cũ thì trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước là phải tăng cường cập nhật dữ liệu.
Theo Thứ trưởng, cơ sở dữ liệu về nhà ở, đất đai và thuế phải bảo đảm “đúng, đủ, sạch và đồng bộ”. Cơ quan Thuế đã chủ động đề xuất, kiến nghị, song việc cập nhật, kết nối dữ liệu còn liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan khác, trong đó có chính quyền địa phương.
Một vướng mắc khác được đặt ra là việc đóng mã số thuế và hoàn tất thủ tục giải thể doanh nghiệp.
Theo ông Lê Long, thời gian qua cơ quan Thuế đã xử lý nhiều nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Tuy nhiên, một số khó khăn không thể chỉ giải quyết bằng nghiệp vụ của cơ quan Thuế mà còn cần tháo gỡ về thể chế, chính sách.
Cục Thuế đang phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính tổng hợp các vướng mắc, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước trong quá trình đóng mã số thuế và giải thể doanh nghiệp. Dự thảo xử lý các vướng mắc đã được phối hợp hoàn thiện, báo cáo Bộ và đang lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi trình cấp có thẩm quyền, trong đó có Chính phủ.
Theo ông Lê Long, có trường hợp cơ quan thuế cơ sở chỉ mất khoảng 10-15 ngày để tiếp nhận, xử lý hồ sơ và xác nhận doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế phục vụ việc đóng mã số thuế. Tuy nhiên, khi chuyển sang cơ quan đăng ký kinh doanh, thủ tục vẫn chưa hoàn tất và có trường hợp lại quay trở lại cơ quan thuế để tiếp tục xử lý.
Nguyên nhân là nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước không chỉ có thuế mà còn liên quan đến hải quan, bảo hiểm xã hội và các nghĩa vụ khác. Do đó, hoàn thành nghĩa vụ thuế mới là một phần trong tổng thể các nghĩa vụ doanh nghiệp phải thực hiện để cơ quan đăng ký kinh doanh có cơ sở xem xét hồ sơ.
Liên quan phản ánh chi phí người dân, doanh nghiệp phải trả khi sử dụng dịch vụ đóng mã số thuế, ông Lê Long cho biết, về phía cơ quan thuế, người nộp thuế khi thực hiện thủ tục cần rà soát bốn nhóm vấn đề gồm nghĩa vụ thuế thực tế đã phát sinh nhưng chưa nộp; tiền chậm nộp; hồ sơ khai thuế, hóa đơn còn thiếu; và hành vi vi phạm nếu có để xử lý theo đúng hành vi, thời kỳ và thời hiệu xử phạt.
Ngành Thuế cũng đang triển khai các giải pháp hỗ trợ người nộp thuế trong chiến dịch làm sạch mã số thuế, xây dựng tài liệu hướng dẫn và bố trí nhân lực tại các địa phương để hỗ trợ xử lý.
Việc sử dụng dịch vụ hỗ trợ bên ngoài là quyền lựa chọn của người nộp thuế. Về phía cơ quan Thuế, ông Lê Long khẳng định sẽ hỗ trợ tối đa, hồ sơ đủ điều kiện sẽ được giải quyết đúng hạn, đồng thời “không đặt thêm thủ tục, không có các khoản thu gì ngoài quy định”.
