Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm
Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)
Một kết quả nghiên cứu có thể đạt yêu cầu khoa học nhưng vẫn chưa đủ điều kiện trở thành sản phẩm. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường còn phụ thuộc vào nhu cầu thực tế, khả năng sản xuất, đơn vị tiếp nhận và nguồn lực để hoàn thiện công nghệ.
Nếu những yếu tố này chỉ được tính đến sau khi đề tài kết thúc, kết quả nghiên cứu có thể dừng lại ở nghiệm thu. Đây là lý do phát triển công nghệ chiến lược cần một cách tiếp cận khác: xác định trước bài toán cần giải quyết, sản phẩm phải tạo ra và địa chỉ có thể ứng dụng.
Tại Hội nghị phổ biến các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược ngày 10/8, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh ba yêu cầu: chuyển từ quản lý nặng về thủ tục sang quản lý theo kết quả đầu ra; bắt đầu từ bài toán thực tế thay vì đề xuất nhiệm vụ; đo kết quả bằng năng lực làm chủ công nghệ và sản phẩm ứng dụng thực tế.
Cách tiếp cận này được cụ thể hóa qua Thông tư số 48/2026/TT-BKHCN về trình tự xét tài trợ, đặt hàng, thẩm định, phê duyệt và ký hợp đồng; cùng Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN về cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Bắt đầu từ nơi sử dụng sản phẩm
Từ góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT Nguyễn Văn Khoa cho rằng mỗi chương trình công nghệ chiến lược cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, doanh nghiệp làm hạt nhân, cùng sự tham gia của trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác quốc tế.
Mục tiêu, ngân sách, thời hạn và kết quả đầu ra phải được xác lập ngay từ đầu. Đặc biệt, sản phẩm mới cần có đơn vị đặt hàng và sử dụng. Nếu thiếu thị trường, kết quả nghiên cứu khó đi tiếp đến ứng dụng, thương mại hóa; doanh nghiệp công nghệ cũng không có điều kiện tích lũy năng lực và mở rộng sản xuất.
Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi điểm xuất phát của nhiệm vụ. Thay vì bắt đầu bằng câu hỏi nhà khoa học muốn nghiên cứu gì, cần làm rõ ngành, địa phương hoặc doanh nghiệp đang có vấn đề gì cần giải quyết; công nghệ hiện có đáp ứng đến đâu; sản phẩm cuối cùng sẽ được sử dụng tại đâu.
Theo Thông tư 48, nhiệm vụ có thể được tổ chức dưới dạng nhiệm vụ đơn lẻ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ liên kết. Cấu trúc này phù hợp quá trình phát triển công nghệ, bởi một sản phẩm thường phải trải qua nhiều bước từ nghiên cứu, hoàn thiện nguyên mẫu, thử nghiệm đến sản xuất và đưa ra thị trường.
Mỗi nhiệm vụ được chia thành các gói công việc và mốc đánh giá, trong đó xác định rõ mục tiêu, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ, kinh phí và trách nhiệm của tổ chức chủ trì.
Như vậy, kết quả không còn được xem xét một lần khi nhiệm vụ kết thúc. Tại từng mốc, cơ quan quản lý có thể đánh giá công nghệ đã đạt yêu cầu nào, sản phẩm còn thiếu điều kiện gì và có nên tiếp tục đầu tư cho giai đoạn tiếp theo hay không.
Sàng lọc sớm, tránh đầu tư dàn trải
Đối với những bài toán có nhiều hướng công nghệ khả thi, cơ chế mới cho phép triển khai đồng thời các phương án nghiên cứu độc lập. Mỗi phương án phải khác nhau về hướng công nghệ, giải pháp hoặc phương pháp tiếp cận và được đánh giá qua từng mốc.
Phương án không còn phù hợp có thể bị dừng; nguồn lực tiếp tục được dành cho hướng chứng minh được hiệu quả. Đây là cách tiếp cận phù hợp với nghiên cứu công nghệ mới, nơi không phải mọi phương án ban đầu đều đi đến thành công.
Chấp nhận nhiều hướng nghiên cứu không đồng nghĩa với chia đều nguồn lực đến cuối nhiệm vụ. Việc sàng lọc sớm giúp hạn chế đầu tư kéo dài cho phương án không còn triển vọng, đồng thời tập trung kinh phí vào giải pháp có khả năng tạo sản phẩm.
PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, cho rằng nhiệm vụ công nghệ chiến lược có độ phức tạp và rủi ro cao, đòi hỏi khả năng tích hợp hệ thống và đưa kết quả đến sản xuất, chuyển giao, thương mại hóa.
Vì vậy, Thông tư 49 thiết kế cơ chế tài chính theo gói công việc và mốc đánh giá. Mỗi gói phải trả lời rõ nguồn lực được sử dụng cho nội dung nào, tạo ra sản phẩm gì và thời điểm nào kết quả cần được kiểm chứng.
Kết quả tại từng mốc là căn cứ để thanh toán, quyết toán và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Nếu nhiệm vụ không đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu điều chỉnh hoặc dừng sớm.
Cách làm này chuyển điểm kiểm soát từ chứng từ chi tiêu sang kết quả công nghệ. Tổ chức thực hiện có thêm sự chủ động, nhưng phải chịu trách nhiệm về sản phẩm, chỉ tiêu kỹ thuật, tiến độ và hiệu quả sử dụng kinh phí.
Đưa doanh nghiệp vào từ đầu
Một sản phẩm công nghệ chỉ có thể đi đến thị trường khi quá trình nghiên cứu gắn với năng lực sản xuất, thử nghiệm và nhu cầu sử dụng. Vì vậy, doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện ở khâu tiếp nhận kết quả sau nghiệm thu.
Cơ chế mới mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình xác định bài toán, đề xuất nhiệm vụ, tổ chức nghiên cứu, đối ứng nguồn lực, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.
Nguồn lực đối ứng không chỉ là tiền, mà có thể gồm nhân lực, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phòng thí nghiệm, hạ tầng, phần mềm, tài sản trí tuệ và các nguồn lực hợp pháp khác trực tiếp phục vụ nhiệm vụ.
Sự tham gia từ đầu giúp doanh nghiệp cùng xác định chỉ tiêu kỹ thuật, điều kiện sản xuất và yêu cầu thị trường. Các nhóm nghiên cứu cũng có cơ hội kiểm chứng giải pháp trong môi trường thực tế, thay vì chỉ hoàn thiện sản phẩm trong phạm vi phòng thí nghiệm.
Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng vì thế không chỉ có chuyên gia, nhà khoa học phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu mà còn có thành viên am hiểu tài chính, kinh tế, sản xuất, thương mại hóa hoặc phát triển thị trường. Nhiệm vụ được xem xét đồng thời về giá trị khoa học và khả năng tạo ra sản phẩm.
Thông tư 48 và Thông tư 49 đã tạo khuôn khổ để chuyển từ tư duy “hoàn thành đề tài” sang “giải quyết bài toán”; từ đánh giá bằng hồ sơ sang kiểm chứng bằng sản phẩm; từ cấp kinh phí theo kế hoạch sang phân bổ nguồn lực theo kết quả.
Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào chất lượng của bài toán đặt hàng. Bài toán phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, có chỉ tiêu đo lường được, xác định được đơn vị sử dụng và lựa chọn đúng tổ chức có khả năng thực hiện.
Khi thị trường và địa chỉ ứng dụng được tính đến ngay từ đầu, sản phẩm trở thành thước đo và nguồn lực được sàng lọc qua từng mốc, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thực tiễn mới có thể được rút ngắn.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dat-hang-tu-thuc-tien-do-ket-qua-bang-san-pham-post984733.html

