Dấu ấn của cán bộ Hội đồng Nhân dân mang quân hàm xanh nơi biên cương Tổ quốc (bài 5)
Giữa mênh mang sông nước Tây Nam Bộ, nơi những con sông lớn đổ ra biển và những cánh đồng biên giới bạt ngàn nối liền với nước bạn, hình ảnh người cán bộ quân hàm xanh không chỉ in dấu trên những tuyến đường tuần tra, bảo vệ các cột mốc chủ quyền, mà còn hiện diện nơi nghị trường dân cử. Khi tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp, cán bộ Biên phòng các tỉnh Tây Nam Bộ đã trở thành cầu nối giữa ý Đảng với lòng dân, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân, vun đắp 'thế trận lòng dân' vững chắc từ cơ sở.
Bài 5: Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ
Giữ nhịp nghị trường nơi tuyến đầu An Giang
Phụ trách 35 xã, phường, đặc khu với gần 150km đường biên giới đất liền và bờ biển dài khoảng 200km, Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang đứng trước yêu cầu nhiệm vụ vừa toàn diện, vừa phức tạp. Đây cũng là địa bàn có đông đồng bào dân tộc, tôn giáo sinh sống đan xen. Trên biên giới, vùng biển đảo còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Hoạt động buôn lậu, mua bán người, ma túy, xuất nhập cảnh trái phép, vi phạm vùng biển... có thời điểm diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, việc cán bộ Biên phòng tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp không chỉ là sự ghi nhận của cử tri, mà còn là yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Đại tá Doãn Đình Tránh (bên trái) trong một lần tham gia họp Hội đồng Nhân dân tỉnh An Giang. Ảnh: Đơn vị cung cấp
Trong nhiệm kỳ 2021-2026, Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang có 9 đồng chí tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp. Trong đó, Đại tá Doãn Đình Tránh, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh An Giang là gương mặt tiêu biểu trong vai trò “dân cử”. Trên cương vị kép-vừa là người cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị của đơn vị, vừa là đại biểu Hội đồng Nhân dân, Đại tá Doãn Đình Tránh luôn trăn trở làm sao để mỗi nghị quyết ban hành đều chạm tới đời sống của nhân dân nơi biên giới, biển đảo. Anh tâm niệm: “Muốn ra nghị trường nói đúng, trúng thì mình phải đi đến tận nơi, nghe tận tai, thấy tận mắt”. Phương châm “3 bám, 4 cùng” không chỉ là khẩu hiệu, mà trở thành cách làm xuyên suốt của người cán bộ “một vai, hai trách nhiệm” này.
Từ những chuyến công tác tại các xã ven biển, những buổi tiếp xúc cử tri ở khu vực biên giới đến các cuộc họp chuyên đề của Hội đồng Nhân dân tỉnh, Đại tá Doãn Đình Tránh luôn mang theo những câu chuyện cụ thể. Như chuyện một chủ tàu cá đánh bắt xa bờ loay hoay với quy định chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); chuyện một tổ tự quản mong có thêm đèn chiếu sáng ở khu vực biên giới; hay những băn khoăn của đồng bào tôn giáo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu.
Với vai trò đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, Đại tá Doãn Đình Tránh đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến vào các nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; đề xuất một số giải pháp tăng cường đầu tư các công trình quốc phòng ở địa bàn trọng điểm; lồng ghép nguồn lực xây dựng hạ tầng dân sinh gắn với yêu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới biển đảo. Một trong những nội dung anh đặc biệt quan tâm là xây dựng, củng cố phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trong tình hình mới theo Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Từ nghị trường, anh kiến nghị tiếp tục duy trì, nhân rộng các mô hình tự quản đường biên, cột mốc. Đến nay, toàn tỉnh An Giang có 100 tập thể, 814 hộ gia đình/758 thành viên tham gia “Tổ tự quản đường biên, mốc quốc giới”; có 557 tổ/17.302 thành viên tham gia “Tổ tự quản an ninh trật tự” và 915 hộ dân có đất sản xuất sát biên giới đăng ký tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền trên phần đất đang canh tác. Những con số ấy không chỉ là báo cáo khô cứng mà là minh chứng sống động cho “thế trận lòng dân” đang được vun bồi từng ngày.
Tiếp xúc với Đại tá Doãn Đình Tránh, điều dễ nhận thấy là sự điềm đạm của người làm công tác chính trị hòa quyện với sự sắc sảo của một đại biểu dân cử. Mỗi kỳ họp Hội đồng Nhân dân tỉnh không chỉ là nơi biểu quyết, thông qua nghị quyết, mà còn là diễn đàn để anh truyền tải tiếng nói của bà con vùng biên, biển đảo-những người ngày ngày bám đất, bám biển như chính những người lính Biên phòng.
Đồng hành cùng dân nơi tuyến biên giới Đồng Tháp
Nếu An Giang mang dáng dấp của biển, đảo và những con sông chở nặng phù sa, thì Đồng Tháp lại gắn liền với những cánh đồng trải dài tiếp giáp tỉnh Prey Veng (Campuchia) và tuyến biển rộng hơn 4.200km². Sau sáp nhập, toàn tỉnh Đồng Tháp có 7 cửa khẩu (2 quốc tế, 5 cửa khẩu phụ), 11 xã, phường biên giới, biển với hơn 54.000 hộ dân. Bức tranh biên giới nơi đây cơ bản ổn định, nhưng yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền ngày càng cao, nhất là trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Đại tá Nguyễn Văn Minh, Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp là một trong 3 gương mặt mang sắc phục Biên phòng tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2021-2026. Với Đại tá Nguyễn Văn Minh, vai trò đại biểu dân cử trước hết là trách nhiệm lắng nghe. Trong những buổi tiếp xúc cử tri ở xã biên giới, anh thường bắt đầu bằng những câu chuyện rất đời thường như: Giá lúa, giá cá; tạo việc làm cho con em gia đình chính sách khu vực biên giới sau khi học xong; nỗi lo vi phạm quy chế biên giới, quy định khai thác hải sản... Từ đó, anh phân tích để bà con hiểu rõ chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Luật Biên phòng Việt Nam, các quy định về quản lý, bảo vệ biên giới, biển.
Thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg, Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp đã tham mưu xây dựng 21 tổ/411 thành viên tham gia “Tổ tự quản đường biên, mốc quốc giới”; 23 tổ tàu thuyền an toàn với 94 phương tiện/282 thành viên. Phân công 125 đảng viên đồn Biên phòng phụ trách 568 hộ gia đình; 64 cán bộ, đảng viên tham gia sinh hoạt tại 35 chi bộ ấp...
Những con số ấy phản ánh sự lan tỏa của phong trào, nhưng điều quan trọng hơn là sự chuyển biến trong nhận thức của người dân. Đại tá Nguyễn Văn Minh nhớ lại một cuộc họp dân ở khu vực xã Gò Công Đông: “Khi chúng tôi phân tích rõ trách nhiệm của từng chủ phương tiện trong khai thác hải sản đúng quy định, bà con đồng thuận rất cao. Họ hiểu rằng, giữ uy tín cho địa phương cũng là giữ sinh kế lâu dài cho chính mình”. Từ nghị trường tỉnh, anh kiến nghị tăng cường hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề, đầu tư trang thiết bị giám sát hành trình, đồng thời bố trí kinh phí cho các chương trình “Thắp sáng đường biên”, “Lũy tre biên giới”.
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp đã phối hợp triển khai nhiều dự án, tiêu biểu như “Thắp sáng đường biên” với 1.416 trụ đèn trên 39,5km; trồng hơn 416.000 cây trong Chương trình “Lũy tre biên giới”; xây dựng, sửa chữa hàng trăm căn nhà; khám, điều trị cho hàng chục nghìn lượt người dân; duy trì Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn Biên phòng”, mô hình “Hũ gạo tình thương”... Những việc làm ấy, theo Đại tá Nguyễn Văn Minh, luôn gắn liền với nhiệm vụ chính trị của Hội đồng Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh.
Ở cương vị Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp, Đại tá Nguyễn Văn Minh chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị, kỷ luật, tinh thần phục vụ nhân dân cho cán bộ, chiến sĩ. Ở cương vị đại biểu Hội đồng Nhân dân, anh đặt vấn đề làm sao để mỗi quyết sách của tỉnh đều tính đến yếu tố biên giới, biển. “Phát triển phải đi đôi với giữ vững chủ quyền và muốn giữ vững chủ quyền phải dựa vào dân”-anh nhấn mạnh. Những chuyến công tác của anh thường kết thúc khi trời đã nhá nhem. Trên đường về đơn vị, nhìn những tuyến đèn biên giới sáng lên giữa đồng quê, anh hiểu rằng, ánh sáng ấy không chỉ xua đi bóng tối, mà còn thắp lên niềm tin của người dân vào chính quyền, vào Bộ đội Biên phòng.

Lãnh đạo Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đồng Tháp và Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Đồng Tháp tặng hoa, giấy khen cho các tập thể, cá nhân tích cực tham gia Chương trình "Xuân biên giới - Tết yêu thương" và "Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản" Xuân Bính Ngọ 2026 tại Đồng Tháp Ảnh: Đơn vị cung cấp
Cùng xây dựng nền biên phòng toàn dân từ cơ sở
Dọc theo tuyến biên giới Tây Nam Bộ, điểm chung dễ nhận thấy là sự hiện diện ngày càng rõ nét của cán bộ quân hàm xanh trong thiết chế dân cử. Họ không đứng ngoài quá trình hoạch định chính sách, mà trực tiếp tham gia, đề xuất, giám sát và tổ chức thực hiện. Điều đó tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia xác định: Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó, Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách. Khi cán bộ Biên phòng tham gia Hội đồng Nhân dân các cấp, họ trở thành cầu nối quan trọng để cụ thể hóa tinh thần ấy thành những chương trình, đề án, nghị quyết sát thực tiễn.
Ở tuyến Tây Nam Bộ, nơi địa hình sông nước đan xen, dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo, “thế trận lòng dân” không thể xây dựng bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần. Nó được hình thành từ sự tôn trọng, lắng nghe và đồng hành. Những mô hình tự quản đường biên, tổ tàu thuyền an toàn; những căn nhà “Mái ấm biên cương”; những suất học bổng “Nâng bước em tới trường”; những buổi khám bệnh, cấp thuốc miễn phí... chính là những viên gạch bền chắc dựng nên thế trận ấy.
Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu quản trị địa bàn ngày càng cao và tác động ngày càng rõ nét của tội phạm xuyên biên giới, biến đổi khí hậu..., vai trò của đại biểu Hội đồng Nhân dân là cán bộ Biên phòng càng đặt ra yêu cầu mới: Phải sâu sát hơn với cơ sở, nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề, tăng tính phản biện chính sách và theo dõi đến cùng việc phân bổ, sử dụng nguồn lực cho khu vực biên giới. Chỉ khi nguồn lực thực sự hướng mạnh về cơ sở, khi mỗi điểm dân cư biên giới được chăm lo phát triển bền vững, thì “thế trận lòng dân” mới được củng cố vững chắc-đó chính là nền tảng bền vững nhất của nền biên phòng toàn dân trong giai đoạn mới.
Vai trò đại biểu Hội đồng Nhân dân giúp cán bộ Biên phòng có thêm điều kiện tham gia vào quá trình phân bổ nguồn lực, hoàn thiện cơ chế, giám sát việc thực thi chính sách ở cơ sở. Ngược lại, kinh nghiệm thực tiễn từ tuyến đầu giúp họ mang đến nghị trường những kiến nghị xác đáng, khả thi. Đồng chí Lê Hồng Thắm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Nhân dân tỉnh An Giang cho biết: Nhiệm kỳ 2021-2026, đại biểu Hội đồng Nhân dân là cán bộ Bộ đội Biên phòng đã thể hiện rõ vai trò “hai trong một”: Vừa là người chiến sĩ nơi tuyến đầu bảo vệ chủ quyền, vừa là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân khu vực biên giới, biển đảo trong cơ quan dân cử. Từ thực tiễn công tác ở cơ sở, các đại biểu đã kịp thời phản ánh những vấn đề nảy sinh về an ninh trật tự, buôn lậu, xuất nhập cảnh trái phép, đời sống nhân dân vùng biên; chủ động tham gia giám sát, chất vấn, đề xuất và quyết định nhiều chủ trương quan trọng, góp phần gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, từng bước xây dựng nền biên phòng toàn dân vững chắc.
“Thế trận lòng dân” vì thế không phải khái niệm trừu tượng. Đó là niềm tin được vun đắp qua từng việc làm cụ thể; là sự đồng thuận được tạo dựng qua từng cuộc đối thoại chân thành; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có những đại biểu mang quân hàm xanh nơi tuyến biên giới Tây Nam Bộ. Và khi niềm tin ấy đã bền chặt, mỗi con sông, mỗi cánh đồng, mỗi hòn đảo nơi cực Nam Tổ quốc sẽ luôn là phên giậu vững chắc-không chỉ bởi hàng rào, cột mốc, mà bởi trái tim của hàng vạn người dân cùng hướng về chủ quyền thiêng liêng của đất nước.











