Đầu tư chuyển đổi số, Lạng Sơn “kẹt” bài toán 800 tỷ đồng
Lạng Sơn cần khoảng 800 tỷ đồng để hoàn thành CSDL đất đai nhưng ngân sách dành cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh còn hạn chế.
Riêng CSDL đất đai gấp đôi mức ngân sách chi cho KHCN
Trao đổi tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” hôm 24/9, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn dẫn chứng bài toán xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của ngành tài nguyên và môi trường và chỉ ra một trong những khó khăn lớn của Lạng Sơn trong triển khai chuyển đổi số là nguồn lực đầu tư, đặc biệt với những hệ thống dữ liệu có nhu cầu kinh phí lớn.
Theo ông Huy, trước đây Lạng Sơn yêu cầu hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trong năm 2026. Sau đó, thời hạn được kéo dài đến năm 2027. Tuy nhiên, khả năng hoàn thành vẫn khó khăn bởi cần khoảng 800 tỷ đồng mới có thể hoàn thành. Trong khi đó, khả năng cân đối ngân sách của địa phương còn rất khó khăn.

Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn.
Bài toán này càng rõ khi đặt trong tổng nguồn chi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh.
Theo ông Huy, Trung ương có chỉ đạo tổng chi 3% ngân sách cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Với Lạng Sơn, 3% tương đương khoảng 400 tỷ đồng.
“Đấy là điều kiện lý tưởng”, ông Huy nói. Thực tế, địa phương mới bố trí được khoảng 1,5%, phần còn lại phải trông chờ nguồn Trung ương hỗ trợ thông qua các dự án đầu tư công và các nguồn khác.
Như vậy, tổng mức 3% ngân sách của tỉnh cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tương đương khoảng 400 tỷ đồng, nhưng riêng một nhiệm vụ là xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã cần khoảng 800 tỷ đồng. Khoảng cách về nhu cầu và khả năng bố trí nguồn lực đang trở thành một điểm nghẽn đối với tiến độ triển khai.
Đầu tư dữ liệu không chỉ là bài toán xây dựng hệ thống
Theo ông Nguyễn Quang Huy, vấn đề dữ liệu tại địa phương không chỉ nằm ở việc có kinh phí để xây dựng hệ thống.
Theo mô hình của Chính phủ, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, quá trình triển khai đang diễn ra trong thời gian gấp, ngắn nên các cơ quan, đơn vị chưa có đầy đủ dữ liệu.Một nguyên nhân được ông Huy chỉ ra là nhận thức của lãnh đạo các ngành, đơn vị về vấn đề này chưa rõ. Lạng Sơn đã phải làm việc với từng đơn vị để làm rõ các yêu cầu về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Đối với dữ liệu, theo ông Huy, đơn vị quản lý lĩnh vực nào thì phải xây dựng dữ liệu về lĩnh vực đó. Khi đưa vào điều hành, hệ thống IOC có vận hành được hay không phụ thuộc vào việc có số liệu để hiển thị trên dashboard.
Nhưng khi triển khai thực tế, việc thu thập dữ liệu lại đòi hỏi phải phù hợp với nền tảng. Đồng thời, cần xây dựng quy chế, xác định rõ đơn vị cấp xã cập nhật dữ liệu gì, sở, ngành cập nhật dữ liệu gì, từ đó mới hình thành được hệ thống.
Bài toán "hậu đầu tư"
Một vấn đề khác Lạng Sơn đang đặt ra là duy trì và vận hành trung tâm dữ liệu của địa phương. Ông Huy cho biết địa phương đã nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về vấn đề này và cho rằng vẫn phải duy trì, nâng cấp trung tâm dữ liệu ở địa phương.

Toàn cảnh tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” do Hội Truyền thông số Việt Nam và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức ngày 24/9.
Theo ông, ở cấp quốc gia có những hệ thống, dữ liệu được quản lý ở cấp quốc gia, nhưng ở địa phương vẫn có những quy định, yêu cầu quản lý riêng và cần có hệ thống để duy trì, khai thác.
Do đó, cần phân định rõ dữ liệu nào do địa phương hình thành thì địa phương quản lý, sử dụng và dữ liệu nào bắt buộc phải đưa lên cấp quốc gia.
“Đây cũng là vấn đề chúng tôi đang khá thận trọng”, ông Huy nói. Theo ông, cần xác định dữ liệu được hình thành từ đâu, quy trình như thế nào, sau đó mới tính đến vấn đề duy trì, nâng cấp.
Điều này cho thấy bài toán đầu tư cho chuyển đổi số không dừng ở kinh phí xây dựng ban đầu, mà còn gắn với việc tổ chức quản lý, vận hành và duy trì hệ thống sau đầu tư.
Bên cạnh nguồn lực, Lạng Sơn còn gặp khó khăn trong kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Theo ông Huy, mặc dù Chính phủ đã có về kết nối, trong đó bắt buộc phải kết nối dữ liệu trong hệ thống chính trị, nhưng vẫn còn dữ liệu của một số bộ, ngành chưa kết nối được.
Đơn cử, trong quá trình triển khai hệ thống cửa khẩu số, sau này là cửa khẩu thông minh, Lạng Sơn có một số cơ sở dữ liệu nhưng không kết nối được. Có trường hợp không hợp tác dẫn đến địa phương phải truy vấn qua nhiều trung tâm khác nhau. Có hệ thống do nước ngoài cung cấp, sau đó mới chia sẻ, nhưng cũng có trường hợp bị lỗi nên không chia sẻ được.
Theo ông Huy, mặc dù quy định việc kết nối là bắt buộc nhưng thực tế vẫn còn những vấn đề như vậy. Việc này cũng ảnh hưởng đến khả năng tái sử dụng dữ liệu. Trong khi tái sử dụng dữ liệu có thể giúp giảm chi phí thì trên thực tế địa phương vẫn gặp khó khăn.
Thiếu nhân lực
Cùng với bài toán đầu tư và dữ liệu, Lạng Sơn còn gặp khó khăn về nhân lực công nghệ thông tin, trong đó có nhân lực an toàn thông tin.
Theo ông Huy, nhân lực công nghệ thông tin nói chung, đặc biệt là an toàn thông tin, đối với các địa phương là rất khó khăn. Theo quy định về vị trí việc làm, nhiều cơ quan, đơn vị không có vị trí việc làm chuyên trách về công nghệ, đặc biệt ở cấp xã. Vì vậy, việc tuyển dụng gặp khó khăn.
Bên cạnh đó là vấn đề chế độ đãi ngộ. Theo giám đốc Sở KHCN tỉnh Lạng Sơn, trong cơ quan nhà nước, chế độ đãi ngộ phải theo thang bảng lương. Chính sách thu hút chỉ có tác dụng trong 2-3 năm đầu, trong khi nhân lực công nghệ có thể làm việc tự do, không phụ thuộc vào khu vực nhà nước và có mức thu nhập tốt.
Do đó, việc thu hút nhân lực vào khu vực nhà nước với mức đãi ngộ thấp cũng gặp nhiều khó khăn.
Từ câu chuyện 800 tỷ đồng cho cơ sở dữ liệu đất đai đến bài toán 400 tỷ đồng cho mức chi 3% ngân sách và thực tế mới bố trí được 1,5%, Lạng Sơn đang đối mặt điểm nghẽn cụ thể của chuyển đổi số ở địa phương: nguồn lực đầu tư chưa theo kịp quy mô nhu cầu, trong khi các hệ thống dữ liệu còn đòi hỏi chi phí kết nối, vận hành, duy trì và nguồn nhân lực để khai thác hiệu quả.

