Đẩy mạnh sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt
Với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tỉnh Gia Lai đặt ra kế hoạch chuyển đổi hàng nghìn héc ta canh tác theo hướng xanh, sạch.
Mô hình thí điểm thành công vượt kỳ vọng
Vụ Đông Xuân 2025 - 2026 vừa qua, 11 hợp tác xã ở các xã phía Đông tỉnh Gia Lai triển khai mô hình canh tác lúa theo phương pháp tưới ngập-khô xen kẽ (AWD) trên 668 ha. Đây là dự án "Tạo tín chỉ carbon trong canh tác lúa" do Công ty Green Carbon Inc. (Nhật Bản) phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường, Viện Khoa học Kỹ thuật Duyên hải Nam Trung bộ cùng các đơn vị liên quan thực hiện.
Kết quả đo đạc cho thấy, AWD giúp giảm lượng phát thải CO₂ tương đương xuống còn 5,77 tấn/ha/vụ, thấp hơn 6,73 tấn so với phương pháp tưới ngập truyền thống. Mức giảm 53,8% này tạo tiềm năng lớn cho việc đăng ký tín chỉ carbon trong tương lai.
Đặc biệt, phương pháp AWD còn giúp tiết kiệm đáng kể lượng nước tưới. giảm 5 lần tưới so với đối chứng trong vụ Đông Xuân 2025 - 2026, tương đương 2.600 m3/ha/vụ. Đây là giải pháp hữu hiệu trong bối cảnh tài nguyên nước ngày càng khan hiếm.

Mô hình canh tác lúa theo phương pháp AWD được thí điểm trong vụ Đông Xuân 2025 - 2026. Ảnh: Trọng Lợi
"Những con số này không phải là lý thuyết trên giấy. Đó là kết quả thực tế từ ruộng lúa của bà con và nông dân có lãi sau vụ sản xuất", ông Phạm Vũ Bảo, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Duyên hải Nam Trung Bộ, nhấn mạnh.
Từ lúa đến cà phê đều phải "xanh hóa"
Nhằm tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi hệ thống sản xuất trồng trọt theo hướng phát thải thấp, giảm hóa chất độc hại, giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả sản xuất..., ông Trần Xuân Khải, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, cho hay: UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành kế hoạch tổng thể về sản xuất giảm phát thải đến năm 2035.
Theo ông Khải, đến năm 2035, Gia Lai sẽ có ít nhất 8.000 ha lúa, 2.000 ha mía, 1.000 ha cà phê, 1.000 ha chuối và 1.000 ha mì áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
"Đây là yêu cầu quan trọng với nông nghiệp Gia Lai nếu muốn bền vững và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế", ông Khải thẳng thắn nhìn nhận.
Ông Khải cũng dẫn chứng, hiện các thị trường xuất khẩu lớn như EU, Nhật Bản đang ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về phát thải. Nếu không chuyển đổi ngay từ bây giờ, nông sản Gia Lai sẽ khó xuất khẩu trong tương lai gần.
Ngoài ra, kế hoạch cũng đặt ra tầm nhìn đến năm 2050, ngành trồng trọt Gia Lai phát triển theo hướng phát thải thấp, sinh thái và hiện đại, trở thành trụ cột quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh của nền nông nghiệp tỉnh. Phấn đấu diện tích cây trồng chủ lực (lúa, mì, mía, cà phê, chuối…) ở các vùng sản xuất tập trung được áp dụng quy trình canh tác bền vững, hình thành cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải trong trồng trọt, kết nối đồng bộ với hệ thống giám sát quốc gia.

Công ty TNHH BaKa có khoảng 20 ha vùng trồng cà phê tại xã Ia Hrung và Biển Hồ canh tác theo phương pháp hữu cơ, đem lại năng suất trung bình đạt 18 - 20 tấn quả tươi/ha/vụ. Ảnh: ĐVCC
Gia Lai sẽ trở thành tỉnh phát triển nông sản có trách nhiệm với môi trường, trình độ canh tác cao, đủ năng lực hội nhập vào các chuỗi giá trị, tiếp cận thị trường tín chỉ carbon, tạo lợi thế cạnh tranh xanh trên thị trường trong nước và quốc tế; đóng góp tích cực vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 theo cam kết tại COP 26
Doanh nghiệp đi đầu: từ cà phê đến rừng trồng
Điểm đặc biệt trong kế hoạch lần này là vai trò của doanh nghiệp. Các nhà máy đường, công ty cà phê, chuối, mì... sẽ phải xây dựng vùng nguyên liệu giảm phát thải ngay trên chính đất của họ. Đồng thời, đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, thiết bị hiện đại trong khâu canh tác, thu hoạch, bảo quản và chế biến, nhằm giảm phát thải khí nhà kính và hạn chế ô nhiễm môi trường, đảm bảo phát triển sản xuất hiệu quả, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.
"Doanh nghiệp có lợi thế về công nghệ, vốn và kết nối thị trường. Họ làm được thì nông dân sẽ tin và học theo. Đó là cách lan tỏa nhanh nhất", ông Khải phân tích.
Trước đó, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có không ít cá nhân, hợp tác xã và đặc biệt là các doanh nghiệp tiên phong áp dụng phương pháp canh tác hữu cơ, VietGAP... trong trồng trọt. Một ví dụ điển hình là Công ty TNHH Baka ở xã Ia Hrung. Với 20 ha cà phê canh tác hữu cơ được chứng nhận chỉ dẫn địa lý, công ty này vừa có 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia. Ông Phan Bá Kiên, Giám đốc Baka, chia sẻ việc không sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu hóa học không chỉ giảm phát thải, còn nâng giá trị sản phẩm.
"Năng suất vườn hữu cơ của chúng tôi đạt 18-20 tấn quả tươi/ha, không thua kém canh tác thường. Nhưng sản phẩm được khách hàng đón nhận và sẵn sàng trả giá cao hơn. Đó là động lực bền vững", ông Kiên bật mí.
Không chỉ trồng trọt, lĩnh vực lâm nghiệp cũng đang hướng đến giảm phát thải thông qua trồng rừng gỗ lớn. Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn 100% vốn nhà nước, hiện quản lý và sử dụng hơn 12.699 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn 8 xã của tỉnh. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên hơn 10.350 ha được bảo vệ nghiêm ngặt theo các tiêu chí quản lý rừng bền vững; còn khoảng 2.000 ha rừng trồng được quy hoạch phát triển rừng sản xuất, trọng tâm là rừng gỗ lớn có chứng chỉ.
Thực hiện Đề án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp lâm nghiệp và Đề án phát triển cây gỗ lớn của tỉnh, công ty đã chuyển mạnh từ trồng rừng chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn chu kỳ dài từ 10 - 12 năm. Đến cuối năm 2025, diện tích rừng trồng gỗ lớn tập trung của công ty đạt 825,9 ha, năng suất bình quân trên 25 m³/ha/năm.
Ông Hồ Văn Hể, Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, cho hay: Song song với phát triển rừng gỗ lớn, công ty chú trọng thực hiện quản lý rừng bền vững. Kết quả, đến nay, công ty có hơn 1.284,7 ha rừng trồng được cấp Chứng chỉ rừng VFCS, góp phần nâng cao uy tín doanh nghiệp và giá trị sản phẩm gỗ.
Nhờ rừng trồng gỗ lớn có chứng chỉ, công ty đã chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, có truy xuất nguồn gốc cho các doanh nghiệp chế biến trong và ngoài tỉnh, đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường xuất khẩu như Mỹ, EU và Nhật Bản. Giá trị gỗ có chứng chỉ tăng từ 10 - 15% so với gỗ không chứng chỉ, đồng thời góp phần hình thành chuỗi liên kết bền vững từ trồng rừng - chế biến - tiêu thụ.

Trồng rừng gỗ lớn để nâng cao giá trị kinh tế, cải thiện môi trường ở xã Vĩnh Thạnh. Ảnh: Đoan Ngọc
Ông Hồ Văn Hể cho biết thêm: Giai đoạn 2026 - 2030, công ty định hướng mở rộng diện tích rừng gỗ lớn lên khoảng 1.000 ha, duy trì và mở rộng chứng chỉ rừng trên toàn bộ diện tích rừng trồng, đồng thời từng bước tham gia thị trường tín chỉ carbon. Trọng tâm là đánh giá khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon của rừng trồng gỗ lớn, xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ đo đạc, báo cáo, thẩm tra và phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp để phát triển các dự án tín chỉ carbon. Đơn vị cũng cam kết tiếp tục đầu tư phát triển rừng bền vững, ứng dụng công nghệ trong quản lý và truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao giá trị rừng trồng, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Khó nhất là thay đổi tư duy
"Thói quen canh tác theo cách cũ của nông dân đã ăn sâu nhiều năm qua. Họ vẫn nghĩ bón nhiều phân hóa học là tốt, ngập nước liên tục cho ruộng lúa là đúng. Nhưng đó chính là nguồn phát thải khí mê-tan khổng lồ", ông Khải trăn trở.
Để thay đổi tư duy này, tỉnh sẽ tổ chức đào tạo, tập huấn về kỹ thuật, chính sách, nhận thức chung về sản xuất trồng trọt giảm phát thải cho ít nhất 1.000 cán bộ kỹ thuật cơ sở, khuyến nông, nông dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó, ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học, biện pháp sinh học và nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn; tăng cường độ che phủ đất, làm đất tối thiểu, luân canh hợp lý và sử dụng hợp lý phụ phẩm nông nghiệp.

Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Gia Lai sẽ thúc đẩy chuyển đổi sản xuất trồng trọt theo hướng giảm phát thải, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Trọng Lợi
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số về cảm biến thông minh điều tiết nước, bón phân, phun thuốc, phân tích đất; áp dụng kỹ thuật canh tác nhằm tăng cường khả năng tích trữ carbon trong đất; sử dụng phế phụ phẩm sản xuất than sinh học, phân bón hữu cơ, đưa bèo hoa dâu, bèo lục bình vào cơ cấu sản xuất nhằm cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho đất, tham gia vào quá trình hấp thu khí nhà kính và giảm phát thải khí mê-tan (CH4)...











