Để chăn nuôi tuần hoàn mang lại hiệu quả
Việc tận dụng chất thải để tạo khí đốt, phân bón và nước tưới có thể giúp các cơ sở chăn nuôi giảm chi phí sản xuất, tuy nhiên hiệu quả của mô hình này phụ thuộc vào chất lượng xử lý chất thải và chi phí vận hành.
Bắt đầu từ những khoản lãng phí trong sản xuất
Một hầm khí sinh học có thể tạo nhiên liệu phục vụ sản xuất, nhưng nước và bã sau xử lý vẫn cần được kiểm tra trước khi sử dụng. Phân hữu cơ có thể cung cấp dinh dưỡng cho cây, song diện tích đất trồng phải đủ khả năng tiếp nhận. Để thu hồi giá trị từ chất thải, cơ sở chăn nuôi phải tính toán cả quá trình xử lý và sử dụng, đồng thời kiểm soát nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh.
Trong điều kiện đô thị hóa nhanh, chăn nuôi tại TP Hồ Chí Minh chịu sức ép ngày càng lớn về mặt bằng, môi trường và an toàn sinh học. Với khoảng 42.000 cơ sở, tổng đàn hơn 22,5 triệu con, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn được ước tính phát sinh khoảng 2,72 - 3,25 triệu tấn phân tươi, chất thải rắn và sệt mỗi năm. Khối lượng này vừa tạo áp lực xử lý, vừa đặt ra yêu cầu thu hồi nguồn dinh dưỡng thay vì để thất thoát ra môi trường.
Chăn nuôi TP Hồ Chí Minh qua những con số
Khoảng 42.000 cơ sở
chăn nuôi trên địa bàn.
Hơn 22,5 triệu con
là tổng đàn vật nuôi.
Ước tính 2,72 - 3,25 triệu tấn/năm
là lượng phân tươi, chất thải rắn và sệt phát sinh từ hoạt động chăn nuôi.
Theo ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hồ Chí Minh, nhiều cơ sở quy mô nhỏ còn thiếu vốn, hạn chế về mặt bằng, nhân lực và khả năng tiếp cận công nghệ. Việc liên kết giữa người chăn nuôi với đơn vị thu gom, xử lý phụ phẩm và thị trường tiêu thụ ở một số nơi chưa chặt chẽ.
“Tôi cho rằng phát triển chăn nuôi tuần hoàn không chỉ là câu chuyện lựa chọn một công nghệ xử lý chất thải mà cần được nhìn nhận như một quá trình tổ chức lại sản xuất, liên kết các chủ thể trong chuỗi giá trị và thay đổi cách sử dụng tài nguyên”, ông Thanh nhấn mạnh.
Áp lực xử lý chất thải có thể được giảm ngay từ cách sử dụng thức ăn và nước trong chuồng nuôi. Khi những khoản thất thoát này chưa được kiểm soát thì cơ sở chăn nuôi vừa phải mất chi phí đầu vào, vừa phải xử lý lượng lớn chất thải.

Ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hồ Chí Minh, phát biểu tại Hội nghị gần đây.
Theo Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, cho vật nuôi ăn theo nhu cầu, giảm dư thừa chất đạm và khoáng, nâng chất lượng thức ăn thô là những giải pháp cần ưu tiên. Sử dụng thức ăn hiệu quả giúp giảm chất thải từ nguồn, đồng thời việc theo dõi chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm cũng tạo căn cứ đánh giá kết quả sản xuất.
Trong nuôi lợn, yêu cầu này thể hiện ở cả khẩu phần và cách cho ăn. Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, lưu ý cần cân đối chất đạm và phospho, giảm dư thừa nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu của đàn vật nuôi. Thức ăn rơi xuống rãnh thoát nước cũng phải được hạn chế, bởi phần thất thoát này làm tăng lượng chất hữu cơ mà hệ thống xử lý phía sau phải tiếp nhận.
Tương tự, máng uống rò rỉ hoặc nước mưa chảy vào hệ thống thu gom làm tăng lượng nước phải xử lý. Sửa điểm rò rỉ, tách nước mưa khỏi nước thải và theo dõi lượng nước sử dụng trên mỗi đơn vị sản phẩm là những việc có thể thực hiện trước khi tính đến đầu tư mới. Tuy nhiên, giảm lãng phí phải đi cùng bảo đảm đủ nước cho vật nuôi.
Việc tận dụng phụ phẩm làm thức ăn cần được xem xét trong cùng mối quan hệ giữa chi phí và chất lượng. Theo Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, phụ phẩm phải được phân loại tại nguồn, đánh giá dinh dưỡng, chuẩn hóa công thức và bảo quản. Với nguồn nguyên liệu đưa vào khẩu phần, Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương lưu ý phải rõ nguồn gốc, không bị mốc hoặc lẫn rác; phụ phẩm ướt cần sử dụng đúng thời hạn.
Mua được phụ phẩm với giá thấp chưa đồng nghĩa với việc giảm được chi phí chăn nuôi. Cơ sở còn phải bảo quản nguyên liệu đúng cách và phối trộn thành khẩu phần phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn vật nuôi. Nếu không kiểm soát tốt chất lượng ở các khâu này, việc tận dụng phụ phẩm khó mang lại hiệu quả như mong muốn.
Sau khi giảm thất thoát đầu vào, phân loại chất thải quyết định khả năng lựa chọn phương án xử lý. Tách phân rắn khỏi nước thải, không để lẫn chất nguy hại và ghi nhận khối lượng từng loại giúp xác định nguồn nào phù hợp để ủ phân, tạo khí sinh học hoặc chuyển hóa bằng sinh vật.

Trùn quế và ấu trùng ruồi lính đen được sử dụng để xử lý chất thải hữu cơ, tạo nguồn phân bón và thức ăn chăn nuôi.
Theo GS.TS. Dương Nguyên Khang, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, hệ thống cần được thiết kế theo lượng chất thải thực tế, thay vì chỉ căn cứ số lượng vật nuôi. Cơ sở phải xác định lượng phân mỗi ngày, nước thải lúc cao điểm, diện tích, nguồn điện, nhân lực và nhu cầu sử dụng sản phẩm thu hồi.
Như vậy, hiệu quả công nghệ gắn trực tiếp với điều kiện vận hành. Hầm khí sinh học (biogas) cần đủ thể tích, thời gian lưu và được kiểm soát lượng nguyên liệu đưa vào. Nếu quá tải hoặc để nước mưa tràn vào, hiệu quả sinh khí có thể giảm. Khí thu được cũng cần có phương án sử dụng cho nhu cầu nhiệt hoặc điện.
Với trùn quế và ruồi lính đen, khả năng chuyển hóa chất hữu cơ chỉ phát huy khi nguyên liệu và môi trường nuôi phù hợp. Kỹ sư Đinh Văn Nam, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, lưu ý nguyên liệu nuôi trùn cần được xử lý sơ bộ, ổn định nhiệt độ và giảm mùi khai. Nguyên liệu nuôi ruồi lính đen phải rõ nguồn, loại bỏ tạp chất; phần dư và nước rỉ sau thu hoạch vẫn cần tiếp tục quản lý.
Sinh khối trùn và ấu trùn có thể trở thành nguyên liệu giàu đạm, nhưng phải được xử lý theo mục đích sử dụng và phân tích trước khi phối trộn. Khi chưa kiểm soát chất lượng và an toàn, sinh khối không được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Đây là điều kiện để việc tận dụng phụ phẩm không đưa nguy cơ ô nhiễm hoặc mầm bệnh trở lại đàn vật nuôi.
Kiểm soát chất lượng và tìm nơi sử dụng sản phẩm
Thu hồi được khí, phân hoặc nước mới giải quyết một phần của quá trình tuần hoàn. Giá trị của sản phẩm còn phụ thuộc vào việc đáp ứng yêu cầu chất lượng và có nơi sử dụng phù hợp. Hai điều kiện này cần được xác định từ khi lựa chọn phương án xử lý.
Theo GS.TS Dương Nguyên Khang, xử lý mùi và chất hữu cơ khác với xử lý mầm bệnh. Nước nhìn trong hơn chưa đủ để kết luận an toàn, còn biogas không thay thế bước khử trùng. Bã và nước sau hầm cần được đánh giá, có thể phải xử lý bổ sung tùy chất lượng và mục đích sử dụng.
Việc xử lý nối tiếp qua nhiều công đoạn được áp dụng trong mô hình của Công ty BAF Việt Nam. Theo ông Phạm Thế Anh, Trưởng Phòng Vận hành môi trường công ty, phân rắn được tách trước để giảm lượng chất rắn và chất hữu cơ đi vào hệ thống. Nước thải qua hai hồ biogas, khí sinh ra được thu gom, xử lý và sử dụng phát điện; nước tiếp tục được xử lý sinh học qua vùng thiếu khí và hiếu khí nhằm giảm chất hữu cơ, đặc biệt là nitơ.

Ở mô hình này, thu hồi năng lượng và xử lý nước được thực hiện trong cùng hệ thống, nhưng chất lượng nước đầu ra vẫn cần được kiểm chứng riêng. Các chỉ tiêu về chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, nitơ, phospho và vi sinh phải được đánh giá bằng mẫu có tính đại diện; nước chưa đạt yêu cầu không được xả hoặc tái sử dụng.
Ngay cả khi đáp ứng yêu cầu chất lượng, lượng nước tưới và phân bón vẫn phải phù hợp nhu cầu của cây, khả năng tiếp nhận của đất. Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương lưu ý có đất trồng chưa chắc đã đủ diện tích tiếp nhận toàn bộ dinh dưỡng phát sinh từ chăn nuôi. Kế hoạch tận dụng phụ phẩm vì vậy phải tính đến cả nơi sử dụng và lượng sử dụng, tránh tưới, bón quá mức hoặc để chảy tràn.
Giới hạn về đất và nhu cầu sử dụng cũng đặt ra yêu cầu liên kết ngoài trang trại. Cơ sở chăn nuôi có thể phối hợp với đơn vị trồng trọt, thu gom và chế biến, nhưng phải xác định rõ bên tiếp nhận và trách nhiệm từng khâu. Theo Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, người nuôi thực hiện phân loại, ghi chép; hợp tác xã tổ chức nguồn nguyên liệu; doanh nghiệp tham gia thu gom, chế biến và tiêu thụ; nhà khoa học xây dựng quy trình và kiểm chứng.
Trong quá trình liên kết, an toàn sinh học phải được duy trì từ vận chuyển đến bảo quản. Khu nhận chất thải cần tách khỏi kho thức ăn, khu thành phẩm; đường đi tránh giao cắt và dụng cụ được sử dụng riêng. Xe chở phân không vào kho thức ăn, dụng cụ phải được làm sạch trước khi chuyển khu để hạn chế đưa mầm bệnh trở lại sản xuất.

Phát triển chăn nuôi tuần hoàn tại TP Hồ Chí Minh cần gắn việc tận dụng chất thải với kiểm soát môi trường và hiệu quả sản xuất.
Để đánh giá hiệu quả kinh tế, cơ sở chăn nuôi cần tính rõ khoản chi phí tiết kiệm được nhờ tận dụng chất thải. Thạc sĩ Đỗ Tấn Dương đề nghị xác định lượng nhiên liệu mua ngoài được thay thế bằng khí thu hồi và lượng phân bón cần mua được thay thế bằng phân sau xử lý, sau đó trừ các chi phí điện, nhân công và bảo trì. Khi tính toán, cần tránh tính một khoản lợi ích nhiều lần, khiến hiệu quả mô hình cao hơn thực tế.
“Công nghệ phải đi cùng với phương án tài chính, thị trường đầu ra, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát môi trường và trách nhiệm của từng bên tham gia”, ông Hồ Trúc Thanh nhấn mạnh. Vì vậy, ngay khi lựa chọn phương án đầu tư, mỗi cơ sở cần xác định rõ chi phí, cách vận hành và nơi sử dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm sau xử lý. Trước khi mở rộng mô hình, cơ sở cần theo dõi chi phí thực tế, chất lượng sản phẩm và khả năng tiêu thụ để đánh giá hiệu quả, làm căn cứ đầu tư và duy trì sản xuất lâu dài.
Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/de-chan-nuoi-tuan-hoan-mang-lai-hieu-qua-post1391655.html

