Để có 1,5% GDP, trước hết phải 'quản trị được bầu trời'

Sau Kết luận 99-KL/TW đặt mục tiêu kinh tế không gian tầm thấp đóng góp 1,5% GDP năm 2045, hội nghị tại Tokyo cho thấy cuộc đua toàn cầu đang chuyển từ ban hành luật sang kết nối hệ thống, quản lý dựa trên rủi ro, UTM số hóa và công nhận lẫn nhau.

Nhật Bản: 'quy định dựa trên rủi ro' và cách đi từng bước

Phát biểu chính của ông Eguchi Makoto, Trưởng phòng An toàn tàu bay không người lái, Cục Hàng không dân dụng (Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản – MLIT) tại Hội nghị Harmonized Skies 2026 và Hội thảo ASTM F38 khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Tokyo, 05–08/10/2026) đã nêu khung quy định của Nhật Bản về cơ bản dựa trên rủi ro; mục tiêu không phải là quản lý mọi chuyến bay như nhau, mà là đặt yêu cầu tương xứng với mức rủi ro thực tế.

Quy mô hiện tại giải thích vì sao Nhật Bản đang chuyển trọng tâm sang UTM: hơn 387.000 tàu bay không người lái đã đăng ký; hơn 45.000 người có chứng chỉ hạng 2 và hơn 5.000 người có chứng chỉ hạng 1; năm 2025 cơ quan quản lý xử lý khoảng 92.000 hồ sơ cấp phép, chấp thuận. Ông Eguchi nhìn nhận khi số lượng này tăng thì không thể chỉ quản lý từng chuyến bay bằng nhân lực; cần trao đổi và điều phối kế hoạch bay, tình trạng khai thác bằng hệ thống số.

Nhật Bản không áp dụng UTM đồng loạt mà triển khai theo bước. Ngày 31/3/2026, MLIT ban hành hướng dẫn quy định tiêu chuẩn mà nhà cung cấp dịch vụ quản lý khai thác (USP) phải đáp ứng. Ngày 16/9/2026, MLIT công bố hai USP đầu tiên được chứng nhận là NTT DATA và KDDI SmartDrone; bước đầu tiên là hỗ trợ điều chỉnh kế hoạch bay thông qua hệ thống của các USP này.

Theo doanh nghiệp UTM Intent Exchange, ở thời điểm tháng 3/2026 hệ thống đang ở giai đoạn đầu của bước 2, chưa có chia sẻ vị trí thời gian thực. Tại hội nghị, doanh nghiệp này trình diễn ở khu thử nghiệm Tokyo Bay: Điều phối kế hoạch bay giữa nhiều nhà khai thác, bay theo kế hoạch, theo dõi động và đánh giá rủi ro mặt đất theo phương pháp SORA; sau đó đề xuất giao thức điều phối kế hoạch bay lên ASTM F38 để xem xét tiêu chuẩn hóa – việc có được chấp nhận hay không còn phụ thuộc vào thẩm định của ASTM.

Tóm lại, mô hình Nhật Bản có ba nét: nhà nước giữ chuẩn và nền tảng, nhiều doanh nghiệp được chứng nhận cùng cung cấp dịch vụ; triển khai theo bước, mỗi bước có tiêu chí; và đưa kinh nghiệm vận hành thực tế lên diễn đàn tiêu chuẩn quốc tế để định hình luật chơi chung.

Việt Nam: Mục tiêu đã rõ, 'mối nối' còn thiếu

Ngày 28/9/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 99-KL/TW về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới. Văn kiện xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới và không gian chủ quyền đặc biệt, gắn với chủ quyền không phận, chủ quyền dữ liệu và an ninh mạng. Các mục tiêu chính gồm:

Điểm đáng chú ý nhất đối với người làm quản lý bay là phần “quản trị”: Kết luận yêu cầu mô hình quản trị quốc gia thống nhất, hiện đại, dựa trên dữ liệu, nền tảng số và quản trị rủi ro; quản lý theo khu vực hoạt động, phân tầng độ cao, loại hình và mức độ rủi ro; quản lý từ đăng ký, định danh, cấp phép, điều hành, giám sát đến kiểm tra, xử lý vi phạm. Hạ tầng phải dùng chung, có khả năng tích hợp, liên thông với hệ thống quản lý vùng trời, điều hành bay quân sự và dân dụng. Nói cách khác, nguyên lý mà Tokyo bàn thảo – dựa trên rủi ro, số hóa, liên thông – cũng chính là nguyên lý của Kết luận 99.

Về nền tảng pháp lý, Việt Nam không còn ở trạng thái 'trống pháp lý': Luật Phòng không nhân dân (hiệu lực 01/7/2025), Nghị định 288/2025/NĐ-CP về quản lý tàu bay không người lái, Luật Hàng không dân dụng sửa đổi và gói nghị định, thông tư hướng dẫn (hiệu lực 01/7/2026), trong đó có Nghị định 222/2026/NĐ-CP về hoạt động bay.

Cảng hàng không Điện Biên. Ảnh: Hoàng Hà

Cảng hàng không Điện Biên. Ảnh: Hoàng Hà

Ngày 23/6/2026, Điện Biên là địa phương đầu tiên được cấp phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ứng dụng UAV, với mục tiêu khoảng 6.000 chuyến bay thử nghiệm đến hết tháng 5/2027 và chỉ tiêu an toàn trên 99%. Khoảng cách nằm ở các 'mối nối': Chuẩn hiệu năng, phân loại khai thác theo rủi ro, chia sẻ dữ liệu, giao diện giữa quản lý không lưu (ATM) và UTM, chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ, quy trình phối hợp dân sự – quân sự.

Theo bộ chỉ số sàng lọc do tác giả xây dựng trong nghiên cứu của mình – gồm tám chiều (chiến lược và điều phối, pháp lý dựa trên rủi ro, không phận và phối hợp dân sự – quân sự, định danh số và UTM, an toàn và chứng nhận, công nghiệp, hạ tầng, thị trường – xã hội – dữ liệu), thang điểm 0–5, thông tin đến 17/7/2026 – mức sẵn sàng quản trị của Việt Nam khoảng 2,6/5, với khoảng bất định ±0,15 và thấp nhất ở hạ tầng dữ liệu – UTM. Đây là công cụ chẩn đoán nhằm làm rõ ưu tiên, không phải xếp hạng chính thức.

Sáu điều kiện để Kết luận 99 đi vào thực tế

Theo logic kinh tế, đóng góp 1,5% GDP chỉ đạt được khi cùng lúc có ba thứ: Cầu đủ lớn (nhiều nhiệm vụ bay lặp lại), chi phí giao dịch trên mỗi chuyến bay đủ thấp (hạ tầng số và thủ tục), và rủi ro được kiểm soát để xã hội chấp nhận mở rộng. Kinh nghiệm Tokyo cho thấy cả ba hội tụ ở năng lực quản lý bầu trời bằng dữ liệu và tự động hóa. Từ đó, bài viết đề xuất sáu điều kiện.

Điều kiện số 5 đáng được nói rõ hơn vì có vẻ như mâu thuẫn: hội nhập tiêu chuẩn có làm yếu tự chủ không? Kinh nghiệm Tokyo cho thấy câu trả lời là không, nếu phân tách được hai lớp. Lớp giao diện (định dạng kế hoạch bay, định danh, mức dịch vụ) cần mở và tương thích quốc tế để doanh nghiệp, thiết bị có thể kết nối; lớp dữ liệu chủ quyền (vùng cấm, dữ liệu giám sát nhạy cảm, quyền truy vấn của cơ quan quốc phòng, an ninh) do nhà nước kiểm soát. 'Tương tác được' khác “phụ thuộc”.

Khuyến nghị chính sách

Về quản lý bầu trời và không lưu

Ban hành khung phân loại khai thác theo rủi ro (tương đương Open – Specific – Certified), nội luật hóa SORA và cơ chế thẩm định theo nhóm: hoạt động rủi ro thấp vận hành với yêu cầu tối thiểu; nguồn lực thẩm định tập trung vào hoạt động rủi ro cao (bay trên đầu người, gần sân bay, ngoài tầm nhìn). Đây là phần việc nên hoàn tất trong gói tiêu chuẩn, quy chuẩn năm 2027.

Quy hoạch vùng trời tầm thấp theo lớp dịch vụ: Xác định khu bay thử nghiệm, khu hạn chế, khu cấm bay và hành lang; công bố bằng dữ liệu số để nhà khai thác và hệ thống UTM tự đối chiếu, thay hồ sơ giấy từng chuyến.

Thiết kế giao diện ATM–UTM như một sản phẩm kỹ thuật: mô hình dữ liệu, mức dịch vụ, thời gian đáp ứng khi đóng hoặc mở vùng, điểm chuyển giao trách nhiệm trong tình huống bất thường. Quyền chỉ huy của quốc phòng, an ninh giữ nguyên nhưng truyền qua kênh số có nhật ký, kiểm toán.

Phân tách chức năng: Cơ quan có thẩm quyền xây dựng quy định và chứng nhận; đơn vị bảo đảm hoạt động bay đảm nhiệm lõi thông tin dùng chung và giao diện với ATM; các nhà cung cấp dịch vụ UTM được chứng nhận cạnh tranh ở lớp dịch vụ. Cần tách bạch hạch toán, truy cập dữ liệu không phân biệt đối xử và khả năng chuyển nhà cung cấp để tránh khóa chặt công nghệ.

Lộ trình UTM gắn với các mốc của Kết luận 99

Giai đoạn 2026–2027: Đăng ký, định danh, thông tin vùng địa lý, cổng cấp phép điện tử một cửa; thí điểm điều phối kế hoạch bay trước chuyến tại các địa bàn sandbox; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia.

Giai đoạn 2028–2030: Chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ UTM đầu tiên; kết nối dữ liệu giám sát; thiết kế ba khu thử nghiệm bay cấp quốc gia (đại diện các vùng địa hình khác nhau) thành “phòng thí nghiệm UTM”, thử cả giao diện ATM–UTM và quy trình dân sự – quân sự; đánh giá độc lập hiệu năng.

Sau năm 2030: Cân bằng nhu cầu – năng lực, tái cấu hình vùng trời động, mở rộng khai thác mật độ cao có điều kiện; chỉ chuyển bước khi đạt 'cổng bằng chứng' về an toàn, độ khả dụng hệ thống và mức chấp nhận xã hội.

Về hệ sinh thái và tăng trưởng

Điều phối cấp cao cho kinh tế tầm thấp: chốt kiến trúc dữ liệu quốc gia, ngăn mỗi địa phương xây một nền tảng riêng không tương thích; địa phương thí điểm phải kết nối vào hạ tầng chung và dùng cùng biểu mẫu báo cáo. Điều này phù hợp yêu cầu của Kết luận về hạ tầng dùng chung, liên thông.

Biến sandbox thành phòng thí nghiệm chính sách: lấy kết quả Điện Biên (số chuyến, sự cố, thời gian cấp phép, chi phí) làm đầu vào hiệu chỉnh quy định trước khi nhân rộng; công bố bộ chỉ tiêu theo quý.

Tạo cầu bằng mua sắm công theo kết quả cho logistics, nông nghiệp, giám sát hạ tầng, cứu nạn, cấp cứu y tế – đúng danh mục ưu tiên của Kết luận; đưa bảo hiểm trách nhiệm vào thiết kế ngay từ đầu.

Chủ động vào 'phòng soạn luật chơi': Cử chuyên gia thường xuyên vào các nhóm làm việc của ASTM F38, GUTMA và ICAO APAC; ưu tiên ánh xạ định dạng kế hoạch bay, định danh và mức dịch vụ để doanh nghiệp Việt Nam khai thác được xuyên biên giới ASEAN. Kết luận 99 cũng yêu cầu nâng cao vị thế của Việt Nam trong xây dựng chuẩn mực – muốn vậy phải có mặt từ khi chuẩn còn đang hình thành.

Nhân lực và chấp nhận xã hội: đào tạo người đánh giá rủi ro, kỹ sư UTM, an ninh mạng; đo tiếng ồn, thái độ xã hội trước khi mở rộng; thiết lập kênh khiếu nại minh bạch.

Những rủi ro cần lường trước

Thứ nhất, độ trễ giữa thiết kế và vận hành là hiện tượng phổ biến, không riêng Việt Nam: nhiều khu vực pháp lý đi trước vẫn chậm hơn lộ trình tự đề ra. Vì vậy các mốc 2027, 2030 nên gắn với cổng bằng chứng, không chỉ thời hạn hành chính.

Thứ hai, phân mảnh nền tảng khi nhiều địa phương cùng thí điểm; chi phí kết nối ngược về sau lớn hơn nhiều so với thống nhất chuẩn từ đầu.

Thứ ba, đầu tư dàn trải: Kết luận đã cảnh báo cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh lãng phí.

Thứ tư, phối hợp an ninh – quốc phòng: Cần quy trình thường xuyên, không chỉ xin ý kiến một lần khi xây dựng đề án.

Kết luận

Thông điệp lớn nhất từ Hội nghị ở Tokyo không phải một bản thiết kế để sao chép, mà là cách đặt vấn đề: Các quốc gia không cần cùng một bộ luật, nhưng cần những hệ thống tương tác được với nhau, dựa trên rủi ro và có thể tự động hóa khi quy mô tăng.

Kết luận 99-KL/TW đã đặt đúng thứ tự: quản trị đi cùng khai thác, tiêu chuẩn đi trước quy mô. Con số 1,5% GDP vào năm 2045 sẽ không đến từ số lượng thiết bị bay trên bầu trời, mà từ số nhiệm vụ bay an toàn, lặp lại, chi phí thấp – và điều đó chỉ có được khi bầu trời được quản trị bằng dữ liệu.

Việc của những người làm quản lý bay hôm nay vì thế rất cụ thể: Biến nguyên tắc thành giao diện, quy trình và tiêu chuẩn kịp hạn 2027; biến ba khu thử nghiệm quốc gia thành nơi kiểm chứng giao diện ATM–UTM; và có mặt ở những bàn tròn nơi luật chơi chung của bầu trời tầm thấp đang được viết.

TS Hồ Tuấn Sỹ

------------------

Nguồn tham khảo

Bộ Chính trị, Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới (toàn văn đăng trên VTV.vn ngày 04/10/2026; thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 02/10/2026).

GUTMA, Harmonized Skies 2026 (gutma.org/harmonizedskies2026); DroneTribune, “GUTMA東京初開催 相互承認で空を接続” và “国交省・江口氏がGUTMAキーノートに登壇” (06/10/2026).

Intent Exchange, thông cáo về trình diễn điều phối kế hoạch bay tại Harmonized Skies 2026 và đề xuất lên ASTM F38 (PR TIMES, 10/2026).

Unmanned Airspace, “Japan certifies first UTM service providers” (21/09/2026; trích thông báo của MLIT ngày 16/9/2026).

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15; Nghị định 288/2025/NĐ-CP; Nghị định 222/2026/NĐ-CP; Luật Phòng không nhân dân số 49/2024/QH15.

Hồ Tuấn Sỹ (2026), Kinh nghiệm quốc tế về quản trị kinh tế không gian tầm thấp và bài học cho Việt Nam 

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/de-co-1-5-gdp-truoc-het-phai-quan-tri-duoc-bau-troi-2565578.html