Để kinh tế tư nhân thành đòn bẩy cho đất '9 Rồng'

Phát triển kinh tế tư nhân là hướng đi được triển khai, là xu hướng tất yếu và đang được thúc đẩy mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn không ít hạn chế nên việc tìm một lực đẩy cho kinh tế tư nhân tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là bài toán đang cần lời giải.

Người dân An Giang mua hàng nông sản trưng bày tại hội chợ nông nghiệp, nông sản xanh Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh minh họa: Thanh Sang/TTXVN

Người dân An Giang mua hàng nông sản trưng bày tại hội chợ nông nghiệp, nông sản xanh Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh minh họa: Thanh Sang/TTXVN

Khẳng định vai trò

Theo Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, Chuyên gia kinh tế về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế nhưng hiện vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các nguồn lực. Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị đã đề ra các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn này, song cần tập trung vào nhóm chính sách cốt lõi là vốn, đất đai và nhân lực chất lượng cao.

Nhận định từ các chuyên gia kinh tế, về mặt tổ chức doanh nghiệp hiện tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn yếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Về số lượng, tỷ lệ doanh nghiệp trên bình quân về dân số vẫn thuộc nhóm thấp nhất trong sáu vùng kinh tế cả nước, chỉ cao hơn Trung du và miền núi phía Bắc. Về chất lượng, doanh nghiệp của vùng thuộc diện yếu. Bình quân trên mỗi doanh nghiệp chỉ có 7,5 lao động (cao hơn con số 7,2 của Trung du và miền núi phía Bắc, bằng khu vực Tây Nguyên, thấp hơn đáng kể so với các vùng khác).

Với quy mô như thế, doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là doanh nghiệp nhỏ mà còn siêu nhỏ, dẫn đến giảm hấp dẫn về khả năng thu hút đầu tư, lan tỏa ra thị trường. Ngoài số lượng, chất lượng là vấn đề phải có ngay lời giải, làm sao để quy mô doanh nghiệp “lớn” lên; trong đó, vốn, năng suất, trình độ công nghệ, chuyển đổi số là những nhân tố cần quan tâm trước mắt. Thực tế cho thấy, vốn đăng ký mới của doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ cao hơn khu vực Tây Nguyên và thấp hơn những vùng còn lại. Các chỉ tiêu về doanh nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long đều nằm ở mức gần như thấp nhất cả nước.

Cũng do sự chồng chéo, thiếu đồng bộ và sự phân tán về các chính sách nên sự phối hợp thiếu hiệu quả. Hạ tầng chưa đồng bộ, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trở thành rào cản trong việc mở rộng quy mô sản xuất, phân phối. Đa phần, doanh nghiệp của vùng đều nhỏ và siêu nhỏ, thiếu điều kiện vay vốn cơ bản, khó tiếp cận vốn vay vì chỉ số rủi ro cao. Trong khi đó, trình độ nguồn lực hạn chế, trình độ dân trí còn thấp, chất lượng lao động không cao và lao động đã qua đào tạo có xu hướng di cư lên khu vực Đông Nam Bộ để tìm kiếm việc làm.

Vấn đề cụ thể khác được các chuyên gia lưu ý, để doanh nghiệp phát triển bền vững cần đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến và liên kết xây dựng các vùng nguyên liệu. Là vùng nông nghiệp lớn nhất cả nước đồng thời có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ tuy nhiên sự phát triển tại đây chưa tương xứng.

Điển hình là mô hình sản xuất nấm rơm của hộ ông Huỳnh Văn Tồn tại xã Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông Tồn từng là Phó phòng Nông nghiệp huyện Lai Vung trước đây, có nền tảng kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực nông nghiệp. Lúc đầu, gia đình ông tận dụng rơm rạ từ phần ruộng của nhà đồng thời thu mua thêm để sản xuất nấm rơm, khi ổn định tiến hành thêm công đoạn khác tạo thành chuỗi kinh tế tuần hoàn. Với nguồn rơm rạ huy động, ông tiếp tục dùng một số nguyên vật liệu liện quan cùng một số phụ phẩm hữu cơ như tro trấu, phân bò, tạo thành phân hữu cơ. Sản phẩm này đáp ứng nhu cầu nhiều cơ sở sản xuất trong vùng.

"Tuy nhiên, mô hình này chỉ cho thu nhập kinh tế gia đình được ổn định bởi khi thực hiện theo chuỗi, gia đình cần có điều kiện đầu tư. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cao, cơ sở hạ tầng đường sá chưa thật sự thuận lợi cũng là sự cản trở cho mong muốn mở rộng làm ăn" - ông Tồn bày tỏ.

Tương tự, một cơ sở khác cũng ở tỉnh Đồng Tháp dù tìm được chỗ đứng với sản phẩm tôm khô đã đạt được chuẩn OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) 3 sao nhưng đã gặp khó ngay khi bắt đầu tiếp cận được các đơn hàng lớn bởi thiếu vùng nguyên liệu ổn định, năng lực sản xuất nhỏ không đáp ứng cùng lúc yêu cầu sản lượng, truy xuất nguồn gốc, trình độ khoa học công nghệ còn hạn chế.

Câu chuyện trên là thực trạng chung của các doanh nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Do vậy, các chuyên gia cho rằng cần quan tâm đến yếu tố truyền thông, nâng cao tính minh bạch trong thực thi các chính sách, tạo môi trường tốt nhất, để khai thác tốt hơn nguồn lực tư nhân trong phát triển kinh tế vùng.

Tạo nên lực đẩy mới

Theo các chuyên gia, trong 5 đến 10 năm tới, doanh nghiệp và đầu tư tư nhân sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bởi vậy, không gì có thể thay thế đầu tư tư nhân để trở thành động lực tăng trưởng hàng đầu. Tuy nhiên, trước mắt cần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ chính sách cũng như những lực cản cụ thể.

Tại Vĩnh Long, theo ông Trần Văn Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần dừa Bến Tre, đơn vị đã nỗ lực vươn lên và đạt được một số thành quả đáng khích lệ nhưng nhiều thời điểm khá “căng thẳng” khi phải đối mặt với những khó khăn bởi việc chi phí thu gom, vận chuyển nguyên liệu đến nhà máy tăng cao, đã khiến giá thành sản phẩm sau chế biến phải đội lên, dẫn đến cạnh tranh khó khăn, sức hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư giảm.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp Cần Thơ nơi có tỷ trọng lớn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông sản, thủy sản, logistics và xuất khẩu, những biến động toàn cầu vừa qua đã thể hiện rõ qua chi phí nhiên liệu, giá cước vận tải quốc tế biến động, thời gian giao hàng kéo dài và sự sụt giảm đơn hàng ở một số thị trường. Nhiều doanh nghiệp trong Hiệp hội đã chia sẻ rằng họ đang phải đối mặt với áp lực dòng tiền, chi phí đầu vào tăng nhưng giá bán khó điều chỉnh, rủi ro tỷ giá lãi suất, và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và thủy sản của Cần Thơ đang chịu ảnh hưởng rõ rệt từ việc chi phí logistics tăng và sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn.

“Những khó khăn này không chỉ là thách thức ngắn hạn, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc hoạt động, nâng cao năng lực quản trị và chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng bền vững hơn” - ông Nguyễn Văn Hào, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cần Thơ chia sẻ.

Là một nhà nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp, khởi nghiệp, tái cấu trúc doanh nghiệp và tư vấn chính sách kiến tạo môi trường phát triển doanh nghiệp, tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành ( TP Hồ Chí Minh) cho biết: Cần Thơ không thể phát triển theo mô hình “tăng trưởng đơn lẻ của một đô thị” mà phải đóng vai trò hạt nhân lan tỏa cho cả vùng. Điều này đòi hỏi hệ thống doanh nghiệp tại Cần Thơ, cả nhà nước và tư nhân, phải đi đầu trong đổi mới quản trị, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và kết nối thị trường.

“Việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nâng mạnh năng suất lao động và mở rộng quy mô doanh nghiệp là cần thiết để Cần Thơ đủ sức dẫn dắt. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là chất lượng tăng trưởng: Cần Thơ cần trở thành nơi thử nghiệm và nhân rộng các mô hình phát triển mới cho Đồng bằng sông Cửu Long từ logistics nông sản, chế biến sâu, tài chính xanh đến kinh tế số gắn với nông nghiệp và dịch vụ”, tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.

Ở góc độ địa phương, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên cho biết: Một trong những định hướng trọng tâm trong năm 2026 là đẩy nhanh chuyển đổi nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn, phối hợp hiệu quả trong việc thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, đồng thời đẩy mạnh nâng cao giá trị chuỗi nông sản, phát huy vị thế trong liên kết vùng. Do đó, địa phương sẽ phát huy vai trò trung tâm thương mại, dịch vụ, chế biến và kết nối thị trường của vùng, đồng thời chủ động thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân như “đòn bẩy” cho cả nền kinh tế.

Theo các chuyên gia, để phát triển kinh tế tư nhân Đồng bằng sông Cửu Long, trước mắt cần các yếu tố như tăng cường kết nối liên vùng, liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa doanh nghiệp để hình thành chuỗi giá trị, chia sẻ nguồn lực, cập nhật nâng cao trình độ công nghệ số, đạo tạo nguồn lực, quan tâm hơn đến yếu tố nền tảng của doanh nghiệp như ý thức thượng tôn pháp luật, minh bạch tài chính và chuẩn hóa quy trình hoạt động.

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp cho rằng, trước mắt cần các chính sách hỗ trợ tài chính giúp doanh nghiệp tư nhân vay vốn thuận lợi hơn. Cụ thể, cần hỗ trợ lãi suất vay, mở rộng quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích ngân hàng cải tiến thủ tục cho vay. Chẳng hạn, tại TP Hồ Chí Minh, Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp đã giúp hàng nghìn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn lãi suất ưu đãi. Về lâu dài, cần phát triển thị trường vốn và các kênh huy động mới như trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư khởi nghiệp; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho tài chính số để mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.

“Về đất đai và mặt bằng, cần rút ngắn thủ tục, minh bạch hóa và điện tử hóa quy trình cấp các loại giấy tờ pháp lý liên quan quyền sử dụng đất, thuê đất, đồng thời có cơ chế kiểm soát hiệu quả giá đất tránh tăng đột biến. Chính quyền địa phương nên chuẩn bị sẵn quỹ đất sạch có hạ tầng để doanh nghiệp thuê với chi phí hợp lý. Về lâu dài, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng đấu giá đất công khai, cho thuê đất ổn định, tạo cơ hội tiếp cận đất đai cho doanh nghiệp tư nhân”, tiến sĩ Trần Hữu Hiệp đề xuất.

Nguyễn Văn Việt (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/de-kinh-te-tu-nhan-thanh-don-bay-cho-dat-9-rong-20260329105510750.htm