Để ngành hoa Lâm Đồng không lỡ nhịp hội nhập

Với gần 12.000 ha và 5 tỷ cành hoa mỗi năm, Lâm Đồng sở hữu tiềm năng rất lớn về sản lượng hoa, thế nhưng chỉ xuất khẩu khoảng 8 - 10% sản lượng. Dù lợi thế lớn về khí hậu lẫn tay nghề, ngành hoa địa phương vẫn loay hoay tìm lời giải cho bài toán “làm gì để thúc đẩy xuất khẩu”?

Vườn lan hồ điệp ở YSA Orchid Farm

Vườn lan hồ điệp ở YSA Orchid Farm

Giống mới đi chậm một nhịp

Công nghệ sinh học đang thay đổi giống hoa với tốc độ rất nhanh. Các nhà chọn tạo giống ở Hà Lan, Nhật Bản, New Zealand… liên tục đưa ra thị trường những dòng cúc, hồng, cẩm chướng, lily mới, đẹp hơn, bền hơn, ít bệnh hơn. Nhưng chính sách quản lý, vốn và tình hình dịch hại tại từng thời điểm ở nước ta lại thường đi chậm hơn một nhịp.

Ông Phan Thanh Sang, Chủ tịch Hiệp hội Hoa Đà Lạt nhận định: “Chu kỳ tạo giống mới trên thế giới ngày càng nhanh hơn chu kỳ sửa đổi một văn bản quản lý.” Ông lấy ví dụ giống hoa thược dược, lily lửa, hoa rum. Đây là những loài đã có mặt ở Đà Lạt, nhưng điều đó không có nghĩa người trồng được tiếp cận các giống mới của chính những loài ấy. Loài thì quen, còn giống thì mới và hai chuyện này thường bị gộp làm một khi xét thủ tục nhập khẩu ở Việt Nam.

Thông tư 14/2024/TT-BNNPTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã có một bước tiến khi đưa cây ở dạng nuôi cấy mô ra khỏi nhóm vật liệu làm giống phải phân tích nguy cơ dịch hại (PRA). Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hiệp hội Hoa Đà Lạt, với những giống thật sự mới, chưa có tiền lệ nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn chưa thấy rõ cần nộp dữ liệu gì, gửi đến đâu, theo trình tự nào và bao lâu thì có kết quả. “Điều ngành hoa mong muốn không phải là bỏ PRA, mà cần PRA ngày càng minh bạch, khoa học, có thể dự báo và tương xứng với mức độ nguy cơ”, ông Sang nói.

Chênh nhau ở cây giống

Hiện mỗi năm, Lâm Đồng cần nhập khoảng 1,6 - 3,0% lượng giống, tập trung ở phân khúc hoa cắt cành cao cấp như cúc, cát tường, lily, hồng, tulip, để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu. Tỷ lệ này không lớn, nhưng nó là phần quyết định chất lượng của cả chuỗi phía sau. Các doanh nghiệp lớn như Dalat Hasfarm, Rừng Hoa, YSA Orchid Farm… đi theo con đường chính ngạch.

Giống hoa lay ơn mới trồng ở Hiệp Thạnh, được nông dân nhập từ Trung Quốc

Giống hoa lay ơn mới trồng ở Hiệp Thạnh, được nông dân nhập từ Trung Quốc

Họ nhập giống từ Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và tuân thủ quy định của quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới. Họ cũng có đủ vốn, đủ nhân lực để theo đuổi thủ tục. Với doanh nghiệp nhỏ và hộ trồng hoa, con đường ấy dài và rất tốn kém, vì vậy thường tìm đến giống nhập qua đường tiểu ngạch, không giấy phép, không rõ nguồn gốc.

Cái giá của lựa chọn đó không nhỏ. Giống không có bản quyền thì khó đạt chuẩn của các thị trường quốc tế. Hoa Lâm Đồng vì thế phần lớn quanh quẩn ở trong nước, trong khi hiện cửa ra thế giới rất rộng mở. Bà Nguyễn Thị Phương, nông dân làng hoa ở Đa Thiện chia sẻ: “Những trang trại nhỏ như chúng tôi rất khó tiếp cận giống hoa mới. Chủ yếu mò mẫm, tự mua theo lời giới thiệu nên sản phẩm chủ yếu bán nhỏ lẻ”.

Số liệu thống kê của ngành nông nghiệp Lâm Đồng cho thấy sự chênh lệch khá rõ giữa hai nhóm giống. Với giống cũ, tự nhân giống, doanh thu bình quân chỉ khoảng 800 triệu - 1,2 tỷ đồng/ha/năm, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước và giá bán cành ở mức phổ thông. Trong khi đó, giống mới có bản quyền cho doanh thu bình quân từ 2,5 - 4,5 tỷ đồng/ha/năm, đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, và giá bán cành cao hơn từ 40 - 150% so với giống cũ cùng loại.

Nói cách khác, doanh thu trên mỗi ha của giống mới gấp 3 - 4 lần giống cũ. Chi phí bản quyền chiếm khoảng 10 - 15% giá thành cây giống đầu vào. Khoản này không nhỏ với nông hộ, nhưng so với giá trị gia tăng thu về khi xuất khẩu thì chỉ là phần nhỏ. Vì vậy, mỗi vụ chậm đưa giống mới vào sản xuất là một vụ người trồng hoa bỏ lỡ phần chênh lệch ấy.

Quản chặt dịch hại, nhưng cần mở đường cho giống mới

Ông Phan Thanh Sang chia sẻ: “Không ai trong ngành hoa phản đối kiểm dịch. Đà Lạt từng chịu thiệt vì dịch hại, và những người làm nghề hiểu rõ hơn ai hết rằng một mầm bệnh lọt vào có thể làm hỏng cả vùng sản xuất. Vấn đề là mức quản lý có tương xứng với mức nguy cơ hay không”.

Ông cho rằng, việc đánh giá nên đi theo một chuỗi câu hỏi cụ thể: cây gì, vật liệu nào, xuất xứ từ đâu, có nguy cơ dịch hại nào, cơ sở sản xuất kiểm soát bệnh ra sao, cơ quan bảo vệ thực vật nước xuất khẩu giám sát thế nào. Các nước sản xuất giống lớn đã có cây sạch bệnh, nhà kính kiểm soát môi trường, xét nghiệm vi rút, truy xuất nguồn gốc. Đó là dữ liệu có thể dùng để phân loại nguy cơ, thay vì xếp mọi trường hợp vào chung một mức.

Một góc quang cảnh làng hoa Thái Phiên trong nắng sớm

Một góc quang cảnh làng hoa Thái Phiên trong nắng sớm

Tại các buổi hội thảo gần đây, các chuyên gia, nhà kinh tế, các doanh nghiệp trồng hoa lớn cũng đã nêu ý kiến: Muốn nâng tỷ trọng xuất khẩu hoa vượt mức 10% hiện nay, tỉnh cần làm song song ba việc, đó là giữ gìn nguồn gen bản địa, chủ động lai tạo và đăng ký bảo hộ giống trong nước, đồng thời mở đường cho giống mới của thế giới vào theo cách có kiểm soát. Một môi trường kiểm dịch minh bạch, tôn trọng quyền đối với giống cây trồng cũng sẽ khiến các nhà chọn tạo quốc tế yên tâm đưa giống và công nghệ vào Việt Nam.

Nguyễn Nghĩa .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/de-nganh-hoa-lam-dong-khong-lo-nhip-hoi-nhap-469001.html