Để tư vấn, phản biện là kênh tham mưu tin cậy cho phát triển bền vững
HNN - Trong tiến trình chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh và phát triển bền vững, hoạt động tư vấn, phản biện ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với thành phố Huế. Để hiểu rõ hơn kênh tham mưu tin cậy này, Huế ngày nay Cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS. Đặng Thanh Phú, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Huế (Liên hiệp Hội).

TS. Đặng Thanh Phú, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Huế
Thưa ông, ông có thể điểm qua một số đề án, chính sách mà Liên hiệp Hội tham gia phản biện đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Huế?
Thời gian qua, Liên hiệp Hội tham gia phản biện nhiều đề án, chính sách quan trọng của thành phố, trải rộng trên các lĩnh vực, như quy hoạch đô thị, phát triển du lịch, bảo tồn di sản văn hóa, môi trường, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng nhiều lĩnh vực khác.
Một số nội dung tiêu biểu, như: Kế hoạch thực hiện Chương trình Phát triển tài sản trí tuệ năm 2023; Kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Nghị quyết của Thành ủy về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035; Đồ án Quy hoạch chung đô thị Huế đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
Liên hiệp Hội cũng tham gia góp ý danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược của Huế; các dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và nghị định liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường; Đề án nâng cao năng lực hệ thống quan trắc môi trường tự động; Đề án “Thiết lập và phát triển Tủ sách Huế”... Liên hiệp Hội còn góp ý, tư vấn, phản biện nhiều kế hoạch, quy chế và chương trình công tác khác của thành phố.
Liên hiệp Hội chủ động huy động, kết nối đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực. Nhờ đó, các ý kiến phản biện cơ bản đảm bảo chất lượng, tính kịp thời và có giá trị thực tiễn, góp phần thiết thực vào quá trình hoạch định và triển khai chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Theo ông, tư vấn, phản biện và giám định xã hội hiện đã thực sự “đi trước một bước” và trở thành kênh tham mưu quan trọng cho lãnh đạo thành phố?
Hoạt động tư vấn, phản biện luôn được Liên hiệp Hội xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược. Đây là kênh tham mưu quan trọng, góp phần hỗ trợ lãnh đạo thành phố trong việc ban hành các quyết sách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả.
Thực tế, nhiều nội dung phản biện được triển khai ngay từ giai đoạn đầu của quá trình xây dựng chính sách. Qua đó, giúp nhận diện sớm những vấn đề và rủi ro tiềm ẩn; cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn khách quan; đồng thời, đề xuất các phương án, giải pháp phù hợp. Nhờ vậy, hạn chế được việc phải điều chỉnh, sửa đổi sau khi chính sách được ban hành.
Để hoạt động tư vấn, phản biện thực sự “đi trước một bước” một cách đầy đủ và bền vững, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế đặt hàng, tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành với Liên hiệp Hội, cũng như nâng cao chất lượng đội ngũ chuyên gia.

Nhiều lĩnh vực như quy hoạch đô thị, môi trường... đã có sự tham vấn góp ý, phản biện của đội ngũ trí thức, nhà khoa học để hoàn thiện chính sách. Ảnh: Minh Thư
Có trường hợp nào ý kiến phản biện của Liên hiệp Hội tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạch định chính sách của địa phương?
Đến nay, Liên hiệp Hội chưa có báo cáo tổng thể đánh giá đầy đủ về hiệu quả của công tác tư vấn, phản biện trong suốt quá trình triển khai. Tuy vậy, qua thực tiễn nhận thấy một tín hiệu tích cực là số lượng văn bản từ các cơ quan cấp trên, sở, ban, ngành và đơn vị đề nghị Liên hiệp Hội tham gia tư vấn, phản biện ngày càng gia tăng, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2026. Điều này phần nào cho thấy vai trò và uy tín của Liên hiệp Hội đang được khẳng định.
Bên cạnh đó, thông qua các hội thảo khoa học, nhiều ý kiến đánh giá từ các cơ quan, đơn vị và hội thành viên cũng ghi nhận chất lượng ngày càng được nâng cao của hoạt động tư vấn, phản biện, nhất là đối với các chính sách lớn của địa phương.
Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất khiến “tiếng nói” từ hoạt động tư vấn, phản biện chưa được phát huy hiệu quả như mong muốn?
Hoạt động tư vấn, phản biện vẫn đang đối mặt với một số rào cản nhất định. Trước hết, cơ chế đặt hàng chưa thực sự rõ ràng và ổn định khiến việc tham gia phản biện trong một số trường hợp còn mang tính thời điểm. Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho hoạt động này còn hạn chế, đặc biệt là kinh phí, thù lao chưa tương xứng với công sức và hàm lượng chất xám mà các nhà khoa học, chuyên gia bỏ ra.
Ngoài ra, việc cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ phản biện đôi khi chưa đầy đủ, kịp thời, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu. Áp lực về thời gian trong nhiều trường hợp cũng khá lớn, khiến quá trình nghiên cứu, góp ý chưa đạt được chiều sâu như mong muốn.
Hoạt động tư vấn, phản biện cần đổi mới phương thức như thế nào và làm sao để thu hút đội ngũ trí thức, nhất là trí thức trẻ tham gia, thưa ông?
Trong bối cảnh mới, hoạt động phản biện xã hội cần được đổi mới theo hướng linh hoạt, hiện đại và gắn chặt với thực tiễn. Trước hết, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số, như triển khai khảo sát trực tuyến, khai thác dữ liệu lớn và sử dụng các nền tảng số trong tổ chức phản biện. Đồng thời, đa dạng hóa các hình thức phản biện, từ tọa đàm mở, phản biện nhanh đến các chuyên đề chuyên sâu, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn.
Một yếu tố quan trọng khác là gắn hoạt động phản biện với điều tra, khảo sát xã hội học, qua đó nâng cao tính khách quan và cơ sở thực tiễn của các kiến nghị. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công khai, minh bạch và lan tỏa kết quả phản biện để tạo hiệu ứng xã hội tích cực.
Đối với đội ngũ trí thức trẻ, việc tạo dựng môi trường tham gia thực chất là yếu tố then chốt. Cần giao nhiệm vụ cụ thể, có cơ chế ghi nhận và đãi ngộ phù hợp; đồng thời, tạo điều kiện để họ kết nối với các chuyên gia đầu ngành nhằm học hỏi và phát triển. Quan trọng hơn, cần hình thành một hệ sinh thái mà ở đó, trí thức trẻ cảm nhận rõ tiếng nói của mình được tôn trọng, được lắng nghe và có giá trị trong quá trình xây dựng chính sách.










