Đề xuất BHYT chi trả cho nhiều nhóm bệnh ung thư, giảm khó khăn cho người bệnh
Theo Giám đốc Bệnh viện K, tại Việt Nam, nhóm bệnh ung thư phổ biến vẫn là ung thư phổi, gan (đứng đầu), đại trực tràng, dạ dày và ung thư vú ở nữ giới.
Phát biểu tại Hội thảo ung thư quốc gia "Ung thư trong kỷ nguyên hội nhập" do Bệnh viện K tổ chức ngày 5/11, Thứ trưởng Bộ Y tế Đào Xuân Cơ ghi nhận những bước phát triển vượt bậc của y học trong chẩn đoán phân tử, giải trình tự gen, thuốc miễn dịch, xạ trị và y học chính xác, giúp thay đổi tiên lượng và cơ hội sống cho người bệnh ung thư. Bệnh viện K và mạng lưới ung bướu đã nâng cao năng lực điều trị, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Y tế cho rằng, cần nhìn thẳng vào thực tế người bệnh ung thư vẫn thường phát hiện ở giai đoạn muộn, còn sự chênh lệch năng lực điều trị giữa các tuyến, cùng với chi phí điều trị mới đắt đỏ, tạo gánh nặng lớn về kinh tế và tinh thần cho người bệnh cùng gia đình.
Để giải quyết khó khăn này, Thứ trưởng Đào Xuân Cơ yêu cầu cần chuyển mạnh từ tư duy điều trị sang quản lý toàn diện bệnh ung thư, lấy phòng bệnh và phát hiện sớm làm nền tảng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đào Xuân Cơ phát biểu tại hội thảo.
Do vậy, cần đẩy mạnh kiểm soát yếu tố nguy cơ, sàng lọc theo bằng chứng khoa học phù hợp từng nhóm đối tượng; phát huy vai trò y tế cơ sở. Mục tiêu xuyên suốt là không để khoảng cách địa lý trở thành khoảng cách về cơ hội sống.
Để làm được điều đó, cần xây dựng các trung tâm ung thư chuyên sâu làm chủ kỹ thuật cao, đồng thời nâng cao năng lực bệnh viện vùng, bệnh viện tỉnh để người dân tiếp cận điều trị phù hợp ngay tại địa phương.
Đồng thời Thứ trưởng yêu cầu Bệnh viện K phát huy vai trò đầu ngành, đẩy mạnh đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn đa chuyên khoa, kết nối chuyên môn với tuyến dưới. Đặc biệt, chuyển từ quản lý theo từng đợt khám, điều trị sang quản lý liên tục toàn bộ hành trình của người bệnh, lấy chất lượng điều trị, chất lượng sống và sự an toàn làm trung tâm.
Chia sẻ tại hội thảo, GS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K cho biết, bệnh viện đang tích cực cập nhật các tiến bộ y khoa mới nhất từ thế giới, bao gồm phẫu thuật robot tiên tiến, liệu pháp miễn dịch và thuốc đích, thông qua việc hợp tác với các chuyên gia quốc tế hàng đầu để điều trị ung thư cho bệnh nhân.
Đặc biệt, bệnh viện liên tục cập nhật các nghiên cứu mới từ ASCO (Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ) và mời nhiều đoàn chuyên gia quốc tế sang phẫu thuật thị phạm, đào tạo cho bác sĩ.
Bệnh viện cũng cập nhật các thuốc và phác đồ mới cho nhiều loại bệnh ung thư, đặc biệt với ung thư phổi và ung thư tiết niệu.
"Trong thời gian qua, Bệnh viện K đã tiến hành hàng trăm thử nghiệm lâm sàng pha 3, đa quốc gia, và trong thời gian tới sẽ tiến hành nghiên cứu pha 1 các thuốc điều trị ung thư mới", GS Lê Văn Quảng cho biết.
Chia sẻ về một số loại ung thư khó, GS Lê Văn Quảng cho biết thêm, bước tiến của thuốc điều trị ung thư tụy giai đoạn muộn đã giúp tăng thời gian sống của người bệnh lên gấp đôi, gấp ba so với mức 2–3 tháng như trước đây. Tuy nhiên, chi phí thuốc mới rất đắt (khoảng 500.000 USD/năm/liệu trình tại Mỹ). Việc giảm giá thuốc đòi hỏi sự đàm phán ở cấp Nhà nước vì các hãng áp dụng giá chung quốc tế.

GS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K chia sẻ tại hội thảo.
Thuốc điều trị ung thư thế hệ mới hiện rất đắt đỏ, có thể lên tới hơn 100 triệu đồng/lần điều trị, hầu hết bệnh nhân ung thư ở Việt Nam không đủ khả năng chi trả. Theo dự thảo sửa đổi Thông tư ban hành danh mục thuốc BHYT, Bộ Y tế đang đề xuất BHYT thanh toán (chủ yếu thuốc điều trị đích và thuốc miễn dịch thế hệ mới) với mức chi dự kiến từ 30% đến 70% cho nhiều nhóm bệnh ung thư.
Chia sẻ thêm, GS Lê Văn Quảng cũng cho biết, để giảm tải cho tuyến trung ương, Bệnh viện K đã mở rộng mạng lưới chỉ đạo tuyến đến 34 tỉnh, thành. Nếu như trước đây, mỗi năm lượng bệnh nhân đến Bệnh viện K tăng khoảng 20-25%, thì năm vừa qua mức tăng chỉ còn khoảng 5%.
Hiện Bệnh viện K đang phối hợp triển khai ghi nhận ung thư tại các tỉnh, nhằm đánh giá tỷ lệ mắc, cơ cấu bệnh và lứa tuổi để phục vụ xây dựng chiến lược can thiệp. Dự kiến, khoảng 2 năm nữa mới triển khai xong.
Hội thảo ung thư quốc gia quy tụ hơn 1.300 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến, gần 100chuyên gia đến từ 14quốc gia và vùng lãnh thổ, với 22 phiên, cập nhật những tiến bộ mới nhất trong điều trị ung thư.
Các phiên khoa học tập trung vào những dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng quan trọng, bao phủ nhiều chiến lược điều trị mới, từ điều trị bổ trợ, bổ trợ trước, điều trị giai đoạn tiến triển di căn, đến các tiếp cận cá thể hóa và ứng dụng các công nghệ sinh học hiện đại.

Hội thảo có sự tham dự của nhiều chuyên gia ung thư quốc tế.
Cũng trong khuôn khổ chương trình, Bệnh viện K ký Biên bản ghi nhớ hợp tác với Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia Hoa Kỳ (NCCN). Đây là một trong những tổ chức ung thư uy tín bậc nhất trên toàn cầu. Hội nghị cũng đã công bố thêm 3 hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư của NCCN phiên bản Việt hóa, hướng tới hoàn thành 10 bệnh ung thư phổ biến của Việt Nam trong năm 2027.
Chia sẻ tại sự kiện, bà Crystal Denlinger, Giám đốc điều hành NCCN cho biết, thông qua quá trình phối hợp chặt chẽ giữa hai bên, các hướng dẫn chuyên môn của NCCN được điều chỉnh để phù hợp hơn với điều kiện và thực tiễn khám, chữa bệnh ung thư tại Việt Nam.
Các hướng dẫn thích ứng được xây dựng dựa trên chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của chính các bác sĩ ung thư trong nước, nhằm bảo đảm các khuyến cáo phù hợp với quy định quản lý, yếu tố văn hóa và điều kiện thực hành tại Việt Nam. Nhờ đó, các khuyến cáo trở nên dễ áp dụng hơn, đồng thời là tài liệu hướng dẫn thiết thực và hữu ích cho các bác sĩ ung thư trên cả nước.
Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với các bác sĩ ung thư tại các bệnh viện tuyến trung ương mà còn đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ bác sĩ tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến cơ sở. Thông qua các hướng dẫn này, bác sĩ có thể tiếp cận những khuyến cáo dựa trên bằng chứng khoa học tốt nhất hiện có và sự đồng thuận của các chuyên gia, bao quát toàn bộ quá trình chăm sóc người bệnh ung thư, từ chẩn đoán, đánh giá ban đầu đến điều trị, theo dõi và quản lý sau điều trị.
