Đề xuất chi 162.393 tỷ đồng làm 3 dự án cao tốc mới, quy mô 4 làn xe
Chính phủ đề xuất chủ trương đầu tư 3 dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc mới, với tổng chiều dài đầu tư 3 dự án khoảng 430,5 km; sơ bộ tổng mức đầu tư 3 dự án khoảng 162.393 tỷ đồng.
Quy mô 4 làn xe cao tốc, đưa vào khai thác năm 2031
Sáng 7/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình trước Quốc hội về chủ trương đầu tư 3 dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc: Cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong; Cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum; Cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, địa phận tỉnh Sơn La.
Theo Bộ trưởng, việc sớm đầu tư 3 dự án là cấp thiết nhằm hiện thực hóa chủ trương, định hướng của Đảng; đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng; tháo gỡ điểm nghẽn, từng bước hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc theo quy hoạch; thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ biên giới.
Theo đó, tổng chiều dài đầu tư 3 dự án khoảng 430,5 km. Quy mô 4 làn xe cao tốc theo quy hoạch. Tốc độ thiết kế từ 80 - 120km/h.
Sơ bộ tổng mức đầu tư 3 dự án khoảng 162.393 tỷ đồng, trong đó, dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên là 63.120 tỷ đồng, dự án Bảo Hà - Lai Châu là 50.990 tỷ đồng, dự án Quảng Ngãi - Kon Tum là 48.283 tỷ đồng.
Cơ cấu nguồn vốn gồm ngân sách Trung ương khoảng 158.342 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 4.051 tỷ đồng để bố trí khoảng 50% chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với 2 địa phương được giao làm cơ quan chủ quản thực hiện dự án thành phần xây dựng đường cao tốc (Lai Châu 2.004 tỷ đồng, Quảng Ngãi 2.047 tỷ đồng).

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh (Ảnh: Media Quốc hội).
Chính phủ đã dự kiến cân đối, bố trí khoảng 119.398 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương cho 3 dự án trong giai đoạn 2026 - 2030 bảo đảm đủ vốn để cơ bản hoàn thành dự án vào năm 2030.
Về hình thức đầu tư, Bộ trưởng cho biết các dự án đã nghiên cứu phương án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, loại hợp đồng BOT; kết quả tính toán cho thấy với mức vốn Nhà nước hỗ trợ khoảng 50% - 70% sơ bộ tổng mức đầu tư vẫn không xác định được thời gian hoàn vốn.
Bên cạnh đó, các dự án đi qua khu vực miền núi, biên giới, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế rất khó khăn; là công trình thiết yếu, liên vùng, cần giảm chi phí vận tải, góp phần thu hút đầu tư. Do vậy, đề xuất đầu tư 3 dự án theo hình thức đầu tư công.
Về tiến độ thực hiện dự án, chuẩn bị đầu tư năm 2026 - 2027; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khởi công xây dựng năm 2027; cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào khai thác năm 2031.
Trên cơ sở thực tiễn triển khai đầu tư các dự án đường bộ cao tốc trong thời gian qua, căn cứ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Đầu tư công và các pháp luật khác có liên quan, Bộ trưởng cho biết, 3 dự án đề xuất áp dụng các nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt tương tự các dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội chấp thuận, gồm 5 chính sách chung về: thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chỉ định thầu; điều chỉnh quy hoạch; bãi để chất thải rắn xây dựng.
Đề nghị nghiên cứu phương án tốc độ thiết kế 100 km/h
Thẩm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí với sự cần thiết đầu tư 3 dự án.
Về hình thức đầu tư, Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất thực hiện 3 dự án theo hình thức đầu tư công. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy phương án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (loại hợp đồng BOT) không bảo đảm tính khả thi về tài chính do thời gian hoàn vốn quá dài hoặc không xác định được.

Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi (Ảnh: Media Quốc hội).
Đồng thời, các dự án đều nằm ở khu vực miền núi đặc biệt khó khăn, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh và kết nối với các đoạn tuyến liền kề cũng đang được triển khai bằng nguồn vốn đầu tư công.
Về quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật, theo ông Phan Văn Mãi cả 3 dự án đều được đề xuất đầu tư quy mô 4 làn xe cao tốc hoàn chỉnh. Tuy nhiên, quy mô và tiêu chuẩn thiết kế có sự khác biệt ở từng dự án: Dự án Quảng Ngãi - Kon Tum tốc độ 80 đến 100 km/h; dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên tốc độ 80 km/h; dự án Bảo Hà - Lai Châu tốc độ thiết kế 80 đến 100 km/h.
"Do đó, nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu phương án tốc độ thiết kế là 100 km/h cho các dự án nhằm đảm bảo tầm nhìn dài hạn", ông Mãi nêu.
Sơ bộ tổng mức đầu tư của 3 dự án đường bộ cao tốc, trong đó, riêng nhu cầu vốn ngân sách Trung ương dự kiến bố trí cho giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 119.398 tỷ đồng.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá tiến độ giải ngân thực tế bị dồn áp lực rất lớn vào các năm cuối của giai đoạn (2030 - 2031), tạo rủi ro kéo dài thời gian hoàn thành thực tế sang kỳ đầu tư công 2031 - 2035.
Về các cơ chế, chính sách đặc thù, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng để đảm bảo tiến độ cho các dự án, việc đề xuất các cơ chế đặc thù là phù hợp. Do đó, cơ bản nhất trí với các chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng với một số dự án tương tự trong thời gian qua.
Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục rà soát, đánh giá sự cần thiết và tính khả thi của từng cơ chế, chính sách cho từng dự án; chỉ đề xuất những chính sách thực sự cần thiết; xác định rõ phạm vi áp dụng, thẩm quyền quyết định, trách nhiệm tổ chức thực hiện và quy định cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; bảo đảm công khai, minh bạch, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và thất thoát, lãng phí.
Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị rà soát, cân nhắc kỹ đối với đề xuất chỉ định thầu. Thực hiện đấu thầu theo quy định đối với các gói thầu có đủ điều kiện cạnh tranh, bảo đảm công khai, minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước.
Chỉ áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với những trường hợp đặc biệt, thật sự cần thiết và đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
