Đề xuất cơ chế ưu đãi đặc biệt cho các mỏ dầu khí khó khai thác

Bộ Công Thương dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Dầu khí, đề xuất tiêu chí lô nước sâu, xa bờ, mỏ cận biên được hưởng ưu đãi đầu tư.

Bộ Công Thương đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dầu khí, trong đó đề xuất nhiều nội dung mới về ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với khai thác tận thu.

Theo Bộ Công Thương, dự thảo bổ sung quy định về tiêu chí xác định các lô dầu khí ở vùng nước sâu, xa bờ, khu vực có điều kiện địa lý đặc biệt khó khăn hoặc địa chất phức tạp, cùng với mỏ cận biên và cơ chế nâng cao hệ số thu hồi dầu.

Dự thảo cũng quy định việc lập, phê duyệt danh mục các lô dầu khí được hưởng ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt, khai thác tận thu mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí, cũng như cơ chế quản lý, hạch toán tài sản tiếp nhận từ nhà thầu. So với Nghị định 45/2023/NĐ-CP, các nội dung này được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Dầu khí năm 2026 và thực tiễn hoạt động dầu khí tại Việt Nam.

Về tiêu chí, lô, mỏ dầu khí thuộc vùng nước sâu, xa bờ, điều kiện địa lý đặc biệt khó khăn khi đáp ứng một trong hai điều kiện: điểm nông nhất sâu từ 150 m trở lên, hoặc điểm gần bờ nhất cách bờ từ 150 km trở lên.

Lô, mỏ có điều kiện địa chất phức tạp là nơi có cấu trúc phân khối nhỏ, nhiều pha kiến tạo, xâm nhập và phun trào, thạch học biến đổi rất mạnh.

Các lô, mỏ này cũng có thể có vỉa chứa chặt xít hoặc phi truyền thống, nhiệt độ và áp suất cao, hoặc hàm lượng khí không hydrocarbon lớn.

Mỏ dầu khí cận biên được xác định là mỏ có kết quả tính toán hiệu quả kinh tế tối thiểu với tỷ suất hoàn vốn nội tại tiệm cận dưới 10%, tính từ thời điểm kế hoạch phát triển mỏ được phê duyệt.

Việc tính toán áp dụng trình độ công nghệ và điều kiện kinh tế - kỹ thuật của hợp đồng dầu khí hiện hữu tại thời điểm đánh giá.

Đề xuất quy định mới về ưu đãi trong hoạt động dầu khí. Ảnh minh họa

Đề xuất quy định mới về ưu đãi trong hoạt động dầu khí. Ảnh minh họa

Về thủ tục, căn cứ đối tượng ưu đãi tại Điều 41 Luật Dầu khí, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam xây dựng danh mục các lô, mỏ được hưởng ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt, trình Bộ Công Thương thẩm định. Hồ sơ gồm tờ trình, bản đánh giá sự phù hợp với tiêu chí kèm tính toán cụ thể cho từng lô, mỏ và các tài liệu liên quan.

Trong 5 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Công Thương lấy ý kiến các bộ gồm Tài chính, Nông nghiệp và Môi trường, Tư pháp, Quốc phòng, Ngoại giao, Công an và các bộ, ngành liên quan. Các đơn vị có 10 ngày làm việc để góp ý. Sau đó, trong 5 ngày làm việc, Bộ có thể đề nghị Tập đoàn tiếp thu, giải trình trong 10 ngày. Bộ Công Thương hoàn thành thẩm định trong 5 ngày làm việc tiếp theo rồi trình Thủ tướng Chính phủ, người có 10 ngày làm việc để xem xét, phê duyệt danh mục. Hằng năm, Tập đoàn rà soát, đánh giá tình hình đàm phán, ký hợp đồng và triển khai hoạt động dầu khí để đề xuất điều chỉnh danh mục khi cần thiết.

Với mỏ cận biên, nhà thầu lập kế hoạch phát triển mỏ, bổ sung thuyết minh, tính toán hiệu quả kinh tế và đề xuất chính sách ưu đãi phù hợp theo Điều 43 Luật Dầu khí. Nhà thầu phải tính toán theo điều kiện của hợp đồng hiện hữu. Nếu không đạt hiệu quả kinh tế tối thiểu thì lần lượt xem xét các mức ưu đãi tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 43. Trường hợp thuộc khoản 4, nhà thầu được đề xuất chọn một trong hai chính sách ưu đãi. Việc tính toán phải thể hiện riêng cho mỏ cận biên, nêu rõ giả định và nguyên tắc phân bổ chi phí, sản lượng khi lô có các mỏ khác đang khai thác.

Tập đoàn có 30 ngày kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ để hoàn thành thẩm định và thông báo kết quả. Trong 5 ngày làm việc sau đó, nhà thầu đề xuất điều chỉnh nội dung hợp đồng dầu khí. Sau khi đàm phán xong thỏa thuận sửa đổi, Tập đoàn trình Bộ Công Thương phê duyệt và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh. Trong 5 ngày làm việc kể từ khi có giấy chứng nhận, Tập đoàn phê duyệt kế hoạch phát triển mỏ cận biên để nhà thầu triển khai. Nhà thầu phải hạch toán riêng các chi phí của mỏ cận biên và chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ của Tập đoàn.

Đối với đầu tư nâng cao hệ số thu hồi dầu khí, nhà thầu lập kế hoạch phát triển mỏ điều chỉnh theo khoản 6 Điều 37 Luật Dầu khí, bổ sung phân tích giải pháp, công nghệ dự kiến áp dụng và đề xuất mức thu hồi chi phí tăng thêm so với hợp đồng hiện hữu.

Quy trình thẩm định, đàm phán sửa đổi hợp đồng và phê duyệt kế hoạch có thời hạn tương tự mỏ cận biên. Nhà thầu hạch toán riêng phần chi phí thu hồi tăng thêm. Khi đã thu hồi hết chi phí đầu tư cho giải pháp này, cơ chế thu hồi chi phí quay về thực hiện theo hợp đồng dầu khí hiện hữu.

Minh Phương

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/de-xuat-co-che-uu-dai-dac-biet-cho-cac-mo-dau-khi-kho-khai-thac-post1637297.html