Đề xuất thực hiện sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động theo 2 giai đoạn
Việc sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động cần thực hiện theo 2 giai đoạn. Mục đích là bảo đảm xử lý kịp thời các yêu cầu cấp bách, không tạo khoảng trống pháp lý khi tổ chức thực hiện, đồng thời đủ cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện toàn diện chính sách, pháp luật về lĩnh vực này cũng như tính đồng bộ, khả thi và ổn định lâu dài.

Các đại biểu ấn nút phát động Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động và Tháng Công nhân năm 2026 tại Quảng Ninh, tháng 4/2026. (Ảnh: QUANG THỌ)
Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động (sau đây gọi tắt là dự thảo Luật)
Khắc phục những hạn chế, bất cập trong quy định về an toàn vệ sinh lao động
Bộ Nội vụ cho biết, trên cơ sở thực tiễn, qua tổng kết cho thấy, sau gần 10 năm thi hành, Luật An toàn, vệ sinh lao động đã tạo khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho công tác bảo đảm an toàn vệ sinh lao động; góp phần nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động; từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước; thúc đẩy công tác phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Các chỉ tiêu về an toàn, vệ sinh lao động tiếp tục được cải thiện; số lượng cơ sở thực hiện chế độ báo cáo tai nạn lao động, số người lao động được quản lý, số mẫu quan trắc môi trường lao động, số người được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp đều tăng đáng kể; tần suất tai nạn lao động chết người hơn 100.000 người tham gia bảo hiểm xã hội giảm rõ rệt so với giai đoạn trước khi Luật có hiệu lực.
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm triển khai, bên cạnh những mặt đạt được, Luật An toàn, vệ sinh lao động đã bộc lộ một số nội dung hạn chế, bất cập.
Cụ thể như: Một số quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp mô hình tổ chức bộ máy hiện hành; cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin, khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động chưa đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại và chuyển đổi số; chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để phù hợp sự phát triển của hệ thống bảo hiểm xã hội, phát huy tốt hơn vai trò phòng ngừa, chia sẻ rủi ro và sử dụng hiệu quả Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…
Một số quy định cần được tiếp tục rà soát nhằm tránh chồng chéo, trùng lặp với các quy định về an toàn kỹ thuật chuyên ngành; các quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, quản lý máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động cũng cần được hoàn thiện để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, tự động hóa, vật liệu mới, phương thức sản xuất và các mô hình lao động mới đang làm thay đổi môi trường lao động, phát sinh các nguy cơ, rủi ro mới đối với người lao động.
Yêu cầu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng đòi hỏi pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động tiếp tục được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và phù hợp yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Những yêu cầu nêu trên không chỉ đặt ra việc sửa đổi một số quy định riêng lẻ mà đòi hỏi phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện tổng thể, toàn diện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, yêu cầu sửa đổi Luật hiện nay đặt ra ở các mức độ khác nhau.
Một mặt, các quy định chịu tác động trực tiếp của việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước cần được sửa đổi kịp thời để thực hiện yêu cầu của Nghị quyết số 190/2025/QH15; đồng thời cần thực hiện các yêu cầu về phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh.
Mặt khác, việc sửa đổi toàn diện Luật liên quan nhiều chính sách lớn, phạm vi tác động rộng; đồng thời, các chủ trương, định hướng mới của Đảng và Nhà nước có liên quan cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ.
Do đó, việc sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động cần được thực hiện theo 2 giai đoạn.
Trước mắt, sửa đổi, bổ sung những quy định cần thiết, cấp bách, đã có cơ sở rõ ràng nhằm kịp thời xử lý các vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; thực hiện yêu cầu phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Trong giai đoạn tiếp theo, tiếp tục nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ tác động của các chính sách và thể chế hóa đồng bộ các chủ trương, định hướng mới.
Việc thực hiện theo 2 giai đoạn vừa bảo đảm xử lý kịp thời các yêu cầu cấp bách, không tạo khoảng trống pháp lý trong tổ chức thực hiện, vừa bảo đảm có đủ cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện toàn diện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và ổn định lâu dài.
Ba nhóm nội dung cần sửa đổi, bổ sung
Theo Bộ Nội vụ, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động không làm thay đổi phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đã được quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, tập trung vào 3 nhóm nội dung sau: (1) giải quyết các vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; (2) cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh; (3) không quy định một số nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ trong Luật (như quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ tại Điều 33 của Luật).
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động gồm 3 điều, với một số nội dung sửa đổi, hoàn thiện sau đây.
Thứ nhất, sửa đổi tên cơ quan để phù hợp với tổ chức bộ máy mới theo Nghị quyết số 176/2025/QH159 của Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Công đoàn. Cụ thể:
Thay thế cụm từ “Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội” bằng cụm từ “Bộ Nội vụ” tại khoản 6 Điều 14; khoản 2 Điều 22; khoản 4 Điều 23; khoản 3 Điều 24; khoản 3 Điều 35; khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 36; khoản 1, khoản 3 Điều 37; khoản 11 Điều 38; khoản 5 Điều 39; khoản 2 Điều 40; khoản 3 Điều 48; khoản 2 Điều 51; khoản 4 Điều 57; khoản 4 Điều 58; khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 77; khoản 3 Điều 80; khoản 2 Điều 81; khoản 2 Điều 83; tên Điều 84; khoản 5, khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều 85; điểm a khoản 1 Điều 91.
Thay thế cụm từ “cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh” bằng cụm từ “cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại khoản 1, khoản 3 Điều 36; thay thế cụm từ “cơ quan quản lý nhà nước về lao động” bằng cụm từ “cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại khoản 2 Điều 71.
Sửa cụm từ “công đoàn cấp trên trực tiếp” tại Điều 10 thành “công đoàn cấp trên cơ sở có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về công đoàn” để phù hợp với Luật Công đoàn.
Thứ hai, sửa đổi quy định về “Thanh tra chuyên ngành an toàn, vệ sinh lao động” để phù hợp với Luật Thanh tra năm 2025 và Nghị định số 217/2025/NĐ- CP, cụ thể: sửa đổi các điều khoản khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra lao động, thanh tra an toàn, vệ sinh lao động (khoản 2 Điều 7; khoản 2 và khoản 4 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 67; điểm đ khoản 4 Điều 74; khoản 7 Điều 84; khoản 9 Điều 85).
Thứ ba, sửa đổi quy định về khai báo, điều tra và thống kê, báo cáo tai nạn lao động để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (Điều 34, Điều 35, Điều 36): một số nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp huyện, công an cấp huyện được chuyển về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và công an cấp xã; không quy định cụ thể thành phần đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh, giao Chính phủ quy định chi tiết;…
Thứ tư, sửa đổi quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động (tại khoản 1 Điều 83).
Thứ năm, sửa đổi trách nhiệm xây dựng, công bố các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động và xây dựng, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động để phù hợp với Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 87).
Thứ sáu, sửa đổi cơ chế tổ chức Hội đồng Quốc gia và Hội đồng An toàn, vệ sinh lao động cấp tỉnh.
Theo đó, dự thảo điều chỉnh thành phần Hội đồng theo hướng phù hợp với cơ cấu tổ chức mới, không quy định cụ thể các bộ, sở, tổ chức tham gia Hội đồng như Luật hiện hành mà sử dụng cách quy định mở hơn, gồm đại diện các bộ, ngành, các sở có liên quan, tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và chuyên gia, nhà khoa học (Điều 88).
Dự thảo Luật cũng lược bỏ một số nội dung.
Bãi bỏ Điều 33 (về phân công trách nhiệm của các bộ trong việc quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động) để bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Tổ chức Chính phủ, theo đó việc phân công trách nhiệm của các bộ thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Bãi bỏ Điều 89 (về Thanh tra an toàn, vệ sinh lao động) để phù hợp với Luật Thanh tra.
Dự thảo Luật cũng đề xuất cắt giảm 1/2 dịch vụ đầu tư kinh doanh có điều kiện, đạt tỷ lệ cắt giảm 50%; cắt giảm 2/4 (50%) thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp; giảm chi phí tuân thủ đối với thủ tục hành chính cắt giảm là 1,4 tỷ đồng/năm.
Cắt giảm quy định khai báo “khi không còn sử dụng, thải bỏ” tại khoản 2 Điều 30 của Luật theo phương án chỉ yêu cầu “khai báo khi đưa vào sử dụng” để đúng với phạm vi điều chỉnh của Luật.
Nội dung phân quyền, phân cấp trong dự thảo Luật gồm 2 nhóm sau.
Cơ quan cấp xã được giao 5 nhiệm vụ. Trong đó, chính thức luật hóa quy định tại nghị định, chuyển một nhiệm vụ từ cơ quan Công an cấp huyện sang cho Công an cấp xã về “tiếp nhận khai báo đối với các vụ tai nạn làm chết người hoặc làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên” (tại khoản 1 Điều 34).
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện 8 nhiệm vụ. Trong đó, chính thức luật hóa quy định tại nghị định, chuyển 1 nhiệm vụ “tiếp nhận nội dung thống kê, báo cáo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng liên quan đến người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động” từ Ủy ban nhân dân cấp huyện về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tại khoản 2 Điều 36).
