Đến sau Starlink, mạng vệ tinh Amazon có gì cạnh tranh tại Việt Nam?
Gia nhập cuộc đua Internet vệ tinh muộn hơn Starlink nhưng Amazon Leo vẫn sở hữu một số lợi thế đáng chú ý khi bắt đầu hiện diện tại Việt Nam.

Amazon đang đẩy nhanh tốc độ phóng vệ tinh, đồng thời mở rộng hạ tầng và hiện diện tại Việt Nam. Ảnh: ULA Launch.
Ngày 23/9, Công ty TNHH Amazon Kuiper Việt Nam được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng tại Việt Nam.
Theo giấy phép, doanh nghiệp được sử dụng đường truyền vệ tinh để thử nghiệm, kiểm tra hoạt động của thiết bị đầu cuối và đánh giá chất lượng các sản phẩm được sản xuất trong nước. Hệ thống sẽ kết nối mạng vệ tinh với hạ tầng mặt đất tại Việt Nam và có phạm vi hoạt động trên toàn quốc.
Tuy nhiên, giấy phép này không đồng nghĩa Amazon Leo đã được phép cung cấp Internet vệ tinh đại trà tại Việt Nam. Hoạt động trước mắt chủ yếu phục vụ thử nghiệm mạng, kiểm tra thiết bị đầu cuối và đánh giá chất lượng sản phẩm.
Amazon dự kiến đưa hơn 3000 vệ tinh lên quỹ đạo
Việc được cấp phép diễn ra trong bối cảnh Amazon đang tăng tốc xây dựng mạng vệ tinh riêng để cạnh tranh với Starlink của SpaceX.
Amazon Leo, trước đây có tên Project Kuiper, là mạng vệ tinh quỹ đạo Trái Đất tầm thấp do Amazon phát triển, hướng tới cung cấp Internet băng rộng cho hộ gia đình, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và những khu vực khó tiếp cận hạ tầng viễn thông mặt đất.
Để mở rộng vùng phủ, Amazon đang tăng tốc đưa vệ tinh lên quỹ đạo. Tính đến ngày 18/9, hãng đã hoàn thành 14 nhiệm vụ phóng, đưa gần 400 vệ tinh vào hoạt động. Trong kế hoạch dài hạn, Amazon đã đặt hơn 100 lượt phóng với 4 nhà cung cấp để xây dựng mạng lưới gồm hơn 3.000 vệ tinh.

Vệ tinh của amazon Leo. Ảnh: Manuel Mazzanti/NurPhoto via Getty Images
Dù vậy, khoảng cách với Starlink hiện vẫn còn khá lớn. Trong khi Amazon Leo mới có gần 400 vệ tinh, Starlink đã vận hành hơn 11.100 vệ tinh. Vì thế, Amazon không chỉ tập trung mở rộng số lượng vệ tinh mà còn tìm cách tạo lợi thế ở thiết bị đầu cuối, hạ tầng truyền dẫn và các công nghệ kết nối mới.
Ở phía người dùng, hãng phát triển 3 dòng thiết bị thu phát vệ tinh. Leo Nano hướng tới nhu cầu kết nối cơ bản, với tốc độ tối đa khoảng 100 Mbps; Leo Pro dành cho hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ, có thể đạt khoảng 400 Mbps; còn Leo Ultra phục vụ doanh nghiệp lớn và các nhu cầu chuyên biệt, với tốc độ tải xuống lên tới 1 Gbps.
Trong khi đó, ở phía hạ tầng mạng, Amazon sử dụng hệ thống liên kết quang OISL, cho phép các vệ tinh truyền dữ liệu trực tiếp cho nhau bằng laser, với tốc độ kết nối có thể đạt tới 100 Gbps.
Nhờ đó, dữ liệu không nhất thiết phải liên tục truyền từ vệ tinh xuống trạm mặt đất rồi mới đi tiếp, mà có thể được chuyển trực tiếp giữa các vệ tinh trên quỹ đạo. Cách này giúp đường truyền linh hoạt hơn và hỗ trợ giảm độ trễ của mạng.
Amazon có gì để cạnh tranh với Starlink tại Việt Nam?
Ngoài việc mở rộng số lượng vệ tinh, Amazon còn phát triển Direct-to-Device, công nghệ cho phép vệ tinh kết nối trực tiếp với điện thoại tương thích tại những khu vực mạng mặt đất khó phủ sóng. Đây cũng là hướng Starlink đang đi trước với công nghệ Direct-to-Cell.
Tuy nhiên, lợi thế lớn nhất của Starlink hiện vẫn nằm ở mức độ thương mại hóa. Dịch vụ của SpaceX đã được triển khai tại nhiều thị trường, trong khi Amazon Leo vẫn đang trong quá trình mở rộng mạng lưới và hoàn thiện hạ tầng.
Starlink còn có lợi thế khi SpaceX tự sở hữu tên lửa và hệ thống phóng, giúp chủ động hơn về lịch triển khai và tốc độ bổ sung vệ tinh. Amazon chưa có khả năng tương tự nhưng đang bù lại bằng mạng lưới đối tác phóng. Riêng Arianespace đã đưa 100 vệ tinh Amazon Leo lên quỹ đạo qua 3 nhiệm vụ trong chưa đầy 5 tháng.
Ở chiều ngược lại, Amazon sở hữu hệ sinh thái AWS, mạng lưới khách hàng doanh nghiệp và các đối tác công nghệ sẵn có. Đây có thể trở thành lợi thế khi hãng đưa Amazon Leo vào thị trường doanh nghiệp và viễn thông.

Trung tâm Dữ liệu Amazon Web Services tại Virginia (Mỹ). Ảnh: Reuters.
Việt Nam cũng giữ một vị trí đáng chú ý trong chiến lược này. Các thiết bị đầu cuối Amazon Leo dự kiến được sản xuất tại Bắc Ninh, trong khi mạng viễn thông dùng riêng vừa được cấp phép sẽ phục vụ quá trình kiểm thử những sản phẩm này.
Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ là một thị trường tiềm năng, mà còn tham gia vào chuỗi sản xuất và kiểm thử thiết bị của Amazon Leo. Amazon cũng có kế hoạch phát triển hạ tầng mặt đất tại Việt Nam để phục vụ hoạt động của hệ thống.
Nhìn tổng thể, Starlink hiện vẫn có lợi thế về quy mô mạng lưới và mức độ thương mại hóa. Amazon Leo lại đang xây dựng vị thế từ công nghệ thiết bị, hệ sinh thái AWS và chuỗi sản xuất tại Việt Nam.
Cuộc cạnh tranh giữa hai bên vì vậy sẽ không chỉ nằm ở số lượng vệ tinh, mà còn ở tốc độ thương mại hóa dịch vụ và khả năng xây dựng hạ tầng tại từng thị trường.



