Di sản cho tương lai (Bài 2)
Bài 2: Khi di sản trở thành bài học quê hương
Một học sinh lớn lên giữa núi non Cao Bằng có thể thuộc tên nhiều địa danh nổi tiếng. Nhưng nếu được hỏi vì sao núi đá vôi có hang động, hóa thạch kể lại điều gì về quá khứ, hay một nghề thủ công truyền thống gắn với môi trường sống ra sao, chưa chắc em đã trả lời được. Khoảng cách giữa nhìn thấy di sản và hiểu được di sản đôi khi lớn hơn chúng ta nghĩ. Vì vậy, trong chuyến công tác tìm hiểu kinh nghiệm tại Itoigawa, Nhật Bản, điều khiến chúng tôi quan tâm là cách địa phương đặt giáo dục vào hoạt động công viên địa chất (CVĐC). Di sản không chỉ được giới thiệu cho khách tham quan, mà còn trở thành chất liệu để người dân, nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu về vùng đất mình đang sống. Đó là một hướng đi Cao Bằng có nhiều điều kiện để phát huy.
Biến cảnh quan thành bài học
Theo định hướng của UNESCO, giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của CVĐC toàn cầu. Hoạt động này không giới hạn trong nhà trường mà còn hướng đến người dân và du khách, giúp những kiến thức khoa học về trái đất trở nên gần gũi, dễ hiểu.

Đoàn công tác tỉnh Cao Bằng làm việc với lãnh đạo thành phố Itoigawa, Nhật Bản, trao đổi kinh nghiệm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản địa chất.
Ở Itoigawa, hoạt động CVĐC có sự kết nối với các cơ sở giáo dục và nghiên cứu. Kinh nghiệm đáng chú ý là việc đưa tri thức khoa học đến cộng đồng thông qua những chủ đề gắn với đặc điểm tự nhiên của địa phương.
Cao Bằng có thể làm điều đó từ những gì rất gần gũi. Vì sao có những dãy núi đá vôi? Hang động được hình thành như thế nào? Hóa thạch cho biết điều gì về môi trường cổ? Nguồn nước ảnh hưởng ra sao đến đời sống và sản xuất của người dân?. Mỗi câu hỏi có thể mở ra một bài học về địa lý, khoa học tự nhiên, lịch sử hoặc môi trường.
Ở các làng nghề, học sinh có thể tìm hiểu mối quan hệ giữa thiên nhiên và lao động. Nghề giấy bản của người Nùng An ở Dìa Trên, chẳng hạn, chứa đựng kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu, kỹ thuật chế tác và tri thức được truyền qua nhiều thế hệ. Một buổi tìm hiểu nghề giấy không chỉ giúp học sinh biết thêm một sản phẩm truyền thống. Các em còn có cơ hội hiểu công sức của người làm nghề và lý do những tri thức ấy cần được gìn giữ.
Giáo dục di sản không phải chỉ kể những điều đẹp đẽ về quê hương. Học sinh cũng cần hiểu những nguy cơ đối với cảnh quan, nguồn nước, môi trường; biết vì sao không nên tự ý lấy mẫu vật địa chất, xâm hại hang động hoặc xả rác tại điểm tham quan. Niềm tự hào sẽ có nền tảng vững chắc hơn khi đi cùng hiểu biết.

Du khách trải nghiệm nghề giấy bản của người Nùng An tại xóm Dìa Trên, xã Quảng Uyên trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng.
Không dừng lại ở một chuyến tham quan
Những năm qua, Ban Quản lý di tích và CVĐC toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng phối hợp tổ chức hoạt động tuyên truyền, tập huấn, trải nghiệm và xây dựng câu lạc bộ “Cùng em khám phá CVĐC”. 9 tháng đầu năm 2026, đơn vị triển khai hoạt động tập huấn, khảo sát thực địa cho 66 giáo viên và 198 học sinh. Đó là những bước đi đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, một chuyến tham quan dù bổ ích đến đâu cũng khó tạo tác động lâu dài nếu kiến thức không được tiếp tục củng cố. Sau hoạt động thực địa, học sinh có thể vẽ sơ đồ, ghi chép hiện tượng, tìm hiểu thêm tài liệu hoặc thực hiện bài giới thiệu ngắn về điểm di sản đã đến.
Các em không cần sử dụng nhiều thuật ngữ phức tạp. Điều quan trọng là biết quan sát, đặt câu hỏi, phân biệt điều mình nhìn thấy với điều cần được giải thích bằng khoa học. Đối với giáo viên, cần có học liệu chính xác, hướng dẫn tổ chức hoạt động an toàn và những ví dụ phù hợp với chương trình giáo dục.
Không nên biến giáo dục di sản thành một nhiệm vụ thi đua mới, khiến nhà trường phải làm thêm nhiều hồ sơ, báo cáo mà hiệu quả học tập không rõ ràng. Điều cần đánh giá là học sinh thực sự hiểu thêm điều gì sau mỗi hoạt động.

Học sinh Trường Tiểu học và THCS Đức Long, xã Đức Long tham quan, trải nghiệm, khám phá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tại xã Trường Hà.
Mỗi trường một câu chuyện di sản
Từ thực tiễn Cao Bằng, có thể nghiên cứu thí điểm mô hình “Mỗi trường một câu chuyện di sản”. Mỗi trường lựa chọn một chủ đề gần gũi với địa phương: một dạng địa hình, dòng suối, hang động, làng nghề hoặc giá trị văn hóa gắn với môi trường sống. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, ghi chép, đọc tài liệu, phỏng vấn người am hiểu và trình bày kết quả bằng hình thức phù hợp.
Sản phẩm có thể là bộ ảnh có chú thích, bài thuyết minh, bản đồ, tập tư liệu hoặc góc giới thiệu tại trường. Những nội dung khoa học cần được cơ quan chuyên môn hỗ trợ kiểm chứng. Không nhất thiết mỗi trường phải có phòng trưng bày hay thiết bị hiện đại. Trường vùng sâu, vùng xa có thể sử dụng tài liệu in và những địa điểm khảo sát an toàn gần trường. Trường có điều kiện thuận lợi hơn có thể kết hợp video, bản đồ số hoặc học liệu trực tuyến.
Điều đáng quý là học sinh được tự tìm hiểu và trình bày câu chuyện quê hương bằng hiểu biết của mình. Nếu được duy trì, mỗi năm học có thể góp thêm một phần tư liệu. Qua thời gian, nhà trường sẽ có một kho kiến thức địa phương do nhiều thế hệ giáo viên và học sinh cùng xây dựng.
Nên bắt đầu với một số trường có điều kiện khác nhau, đánh giá kết quả rồi mới mở rộng. Làm chắc ở vài nơi sẽ có ích hơn triển khai đồng loạt nhưng thiếu chiều sâu.
Những người kể chuyện từ bản làng
Giáo dục di sản không chỉ diễn ra trong lớp học. Người cao tuổi biết lịch sử bản làng, nghệ nhân hiểu kỹ thuật nghề truyền thống, người nông dân có kinh nghiệm về đất đai, nguồn nước và mùa vụ. Những tri thức ấy có thể làm phong phú cách giới thiệu di sản.
Tại các điểm du lịch cộng đồng, người dân có thể trở thành người kể chuyện về nơi mình sống. Một nghệ nhân giới thiệu nghề bằng chính trải nghiệm lao động của mình thường tạo được sự gần gũi mà bài thuyết minh viết sẵn khó thay thế.
Tuy nhiên, cần phân biệt tri thức dân gian với kiến thức khoa học. Những câu chuyện truyền đời có giá trị văn hóa riêng, nhưng không nên được sử dụng như bằng chứng khoa học về lịch sử hình thành địa chất.
Cao Bằng có thể bồi dưỡng đội ngũ người giới thiệu di sản tại các điểm đã có hoạt động cộng đồng, giúp họ nắm được kiến thức cơ bản, kỹ năng giao tiếp và cách cung cấp thông tin chính xác. Đây cũng là cách tạo sự gắn bó giữa CVĐC với đời sống bản làng.
Tôn vinh những người có đóng góp thật
Trong mỗi cộng đồng đều có thể có những người âm thầm làm việc có ích cho di sản: một giáo viên kiên trì hướng dẫn học sinh tìm hiểu quê hương; một nghệ nhân truyền nghề cho lớp trẻ; một người dân tích cực bảo vệ cảnh quan; một hướng dẫn viên giới thiệu đúng giá trị địa phương. Những việc làm ấy cần được ghi nhận.
Cao Bằng có thể nghiên cứu tổ chức xét chọn, vinh danh hằng năm với tên gọi “Đại sứ CVĐC Non nước Cao Bằng”. Đây là danh hiệu tôn vinh của địa phương được đề xuất, không phải danh hiệu do UNESCO phong tặng.
Việc xét chọn nên tập trung vào ba lĩnh vực: bảo tồn di sản và môi trường; giáo dục, tuyên truyền, lan tỏa tri thức; phát triển sinh kế bền vững gắn với giá trị địa phương. Tiêu chí quan trọng nhất phải là kết quả có thể kiểm chứng. Người được vinh danh không nhất thiết có chức vụ hay thành tích lớn, nhưng cần có việc làm thiết thực, được cộng đồng ghi nhận và có khả năng tạo ảnh hưởng tích cực.
Các trường học, cộng đồng dân cư, tổ chức và cơ quan liên quan có thể giới thiệu cá nhân tiêu biểu. Ban Quản lý di tích và CVĐC toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng phối hợp với các đơn vị chuyên môn tham mưu quy trình thẩm tra, xét chọn theo quy chế được cấp có thẩm quyền ban hành.

Nghệ nhân làng nghề hương truyền thống hướng dẫn du khách quy trình làm hương thủ công.
Việc xét chọn cần công khai, không chạy theo số lượng. Mẫu giấy chứng nhận, thẩm quyền công nhận và việc sử dụng tên, biểu trưng UNESCO phải tuân thủ quy định liên quan. Điều đáng quan tâm hơn cả là sau khi được vinh danh, những cá nhân tiêu biểu tiếp tục có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm, tham gia giáo dục và lan tỏa cách làm tốt. Danh hiệu chỉ có ý nghĩa khi góp phần khuyến khích thêm những hành động cụ thể.
Đo sự thay đổi, không chỉ đếm hoạt động
Một nội dung đáng suy ngẫm trong tài liệu trao đổi tại Itoigawa là cách sử dụng các chỉ số về sự tham gia cộng đồng, ý thức đóng góp cho địa phương và mong muốn giới thiệu quê hương với thế giới để nhìn nhận kết quả hoạt động CVĐC. Chưa đủ căn cứ để khẳng định CVĐC là nguyên nhân trực tiếp tạo ra những khác biệt được nêu trong tài liệu. Nhưng cách đặt câu hỏi rất đáng học.
Nếu chỉ thống kê số lớp tập huấn, số chuyến tham quan, chúng ta biết được khối lượng công việc. Muốn hiểu hiệu quả giáo dục, phải tìm xem người tham gia đã tiếp nhận và vận dụng được điều gì.
Cao Bằng có thể bắt đầu bằng những khảo sát nhỏ, phù hợp từng nhóm tuổi và điều kiện địa phương. Học sinh có thể giới thiệu một giá trị di sản gần nơi mình sống không? Có hiểu những hành vi cần tránh để bảo vệ di sản không? Người dân có sẵn sàng tham gia hoạt động cộng đồng không?. Kết quả phải được ghi nhận trung thực, kể cả khi chưa đạt mong muốn. Không nên đặt trước một tỷ lệ thật cao rồi tổ chức hoạt động để hoàn thành chỉ tiêu.
Một CVĐC được thế giới biết đến là điều đáng quý. Nhưng giá trị ấy sẽ bền vững hơn khi chính người dân hiểu và trân trọng vùng đất mình đang sống. Khi một học sinh Cao Bằng có thể tự tin giải thích vì sao quê hương mình đặc biệt, di sản đã trở thành tri thức của thế hệ mới.
Bài 1: Giữ di sản để còn đường phát triển.
Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/di-san-cho-tuong-lai-bai-2-3193724.html

