Lê Anh Xuân – Người tạc vào thơ 'dáng đứng Việt Nam'

Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên thật là Ca Lê Hiến, sinh tại Bến Tre, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông là nhà giáo, nhà nghiên cứu Ca Văn Thỉnh, có nhiều đóng góp cho giáo dục và văn hóa Nam Bộ. Môi trường gia đình giàu truyền thống học tập, lòng yêu nước, sự gắn bó với văn hóa dân tộc đã góp phần hình thành ở Ca Lê Hiến những phẩm chất quan trọng của một trí thức trẻ: Ham hiểu biết, nhạy cảm trước cuộc sống, sớm có ý thức về trách nhiệm đối với quê hương. Các tác phẩm chính: Tiếng gà gáy (thơ, 1965); Giữ đất (truyện ngắn, 1966); Có đâu như ở miền Nam (thơ, in chung, 1968); Trường ca Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968); Hoa dừa (thơ, 1971); Thơ Lê Anh Xuân (tuyển thơ, 1981).

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Năm 2011, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Quê hương Bến Tre - Giảng đường Hà Nội – Chiến trường miền Nam

Năm 1954, sau Hiệp định Genève, Ca Lê Hiến theo gia đình tập kết ra miền Bắc. Sau những năm học ở Hải Phòng (dành cho học sinh miền Nam), Ca Lê Hiến tiếp tục học Trường cấp III Nguyễn Trãi tại Hà Nội (nay là Trường THPT Phan Đình Phùng), rồi vào học Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn). Tài năng thơ của Ca Lê Hiến được ghi nhận khá sớm. Bài "Nhớ cơn mưa quê hương" giành giải nhì cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ năm 1961, đánh dấu bước trưởng thành của một cây bút trẻ, cho thấy một tiếng nói riêng trong việc thể hiện tình yêu quê nhà, nỗi nhớ miền Nam và những rung động sâu kín của tâm hồn. Tốt nghiệp đại học, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Nhưng người thanh niên ấy quyết định trở về miền Nam.

Đó là ước mơ của người con trở về giải phóng quê hương. Tháng 12-1964 ông vượt Trường Sơn vào Nam, tháng 9-1965, niềm vui trở về kết thành bài thơ “Trở về quê nội”, có những câu thơ thật da diết, cảm động: “Ta lại gặp những mặt người ta yêu biết mấy/ Ta nhìn ta, ta ngắm, ta say/ Ta run run nắm những bàn tay/ Thương nhó dồn trong tay ta nóng bỏng”. Với nhà thơ, viết về quê hương phải sống cùng quê hương. Yêu thương miền Nam, phải bằng sự hiện diện và hành động giữa những tháng năm gian khó nhất. Cuối năm 1964, ông vào công tác tại Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, rồi chuyển sang hoạt động trong Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam. Bút danh Lê Anh Xuân ra đời. Theo nhiều ký ức bạn bè, chữ “Anh” lấy theo tên của nhà văn Anh Đức, người gần gũi, góp ý nâng cao bản thảo. Chữ “Xuân” lấy theo Xuân Lan, em gái nhà văn Anh Đức.

 Nhà thơ Lê Anh Xuân. 

Nhà thơ Lê Anh Xuân. 

Ngay hành động lên đường đi theo lý tưởng giải phóng miền Nam của Lê Anh Xuân đã là một biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đó: Tất cả cho Tổ quốc. Tất cả vì miền Nam ruột thịt. Đất nước hòa bình hôm nay đang vươn mình cất cánh, nhờ có thế hệ quên mình hy sinh vì Tổ quốc như người anh hùng ấy.

Từ tiếng thơ trữ tình đến âm hưởng hùng ca

Khi là sinh viên, thơ Lê Anh Xuân nổi bật bởi nỗi nhớ quê hương, mang âm hưởng, cảm xúc trữ tình. “Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm/ Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong/… Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống/ Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông” (Nhớ cơn mưa quê hương). Tập "Tiếng gà gáy" (1965) là một dấu mốc trong hành trình sáng tác có sự kết hợp giữa chất trữ tình và cảm hứng cách mạng. Nhưng phải đến “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” (bắt đầu viết từ 18-5-1965, đến ngày 28-12-1966 hoàn thành.

Tiếp tục sửa chữa, đến 31-12-1966 thì “chép giao lại để đánh máy, sợ mất bản thảo”), sáng tác của nhà thơ mới có sự đổi mới căn bản, chuyển sang giọng anh hùng ca: "Có nơi đâu đẹp tuyệt vời/ Như sông, như núi, như người Việt Nam/ Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang/ Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa/ Trường Sơn chí lớn ông cha/ Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào…”. Cảm hứng ngợi ca không chỉ hướng đến những cá nhân anh hùng, còn nhằm khẳng định sức mạnh tinh thần của một dân tộc anh hùng. Vẫn là nhà thơ của mưa quê hương, bóng dừa bình dị, trữ tình, thân thương, nhưng được sống giữa chiến trường, Lê Anh Xuân còn “là người thư ký” trực tiếp của lịch sử, ghi lại khí phách anh hùng ca của những con người đang làm nên lịch sử. Sự thống nhất giữa hai phương diện ấy tạo nên bản sắc thơ Lê Anh Xuân. Những tác phẩm thơ đậm hơi thở đời sống chiến đấu của nhân dân miền Nam với âm hưởng tráng ca hào hùng của nhà thơ ra đời trong hoàn cảnh đó.

 Nhà thơ Lê Anh Xuân ở chiến trường Nam Bộ.  

 Nhà thơ Lê Anh Xuân ở chiến trường Nam Bộ.  

Điêu khắc tượng đài nghệ thuật "Dáng đứng Việt Nam"

Tháng 3-1968, giữa không khí chiến đấu quyết liệt của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Lê Anh Xuân viết Dáng đứng Việt Nam – một điêu khắc bằng ngôn ngữ thơ của hào hùng sử thi kết hợp với chất đời thường “giản dị, sáng trong”. Đây là một trong những sáng tác cuối cùng, cũng là tác phẩm tiêu biểu của ông. Do chiều kích, tầm cỡ tượng đài mang tính kỳ vĩ, lớn lao nên trong thơ thời chống Pháp, hình tượng anh bộ đội được miêu tả theo nguyên tắc “tạc” vào không gian vũ trụ, thì anh bộ đội thời chống Mỹ, tiêu biểu là thơ Lê Anh Xuân, lại được “tạc” vào thời đại (thế kỷ).

Trong "Dáng đứng Việt Nam", từ tư thế hy sinh của một người chiến sĩ chưa biết tên, nhà thơ sáng tạo ra hình tượng có khả năng vượt khỏi giới hạn của một trận đánh để trở thành biểu tượng về phẩm chất và tư thế của dân tộc: “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn”. Nói về cái chết nhưng hình tượng lại tỏa sáng, vì đó là cái chết của sự bất tử: Hy sinh để đất nước được giải phóng, tự do. Hình tượng vừa tạo ra dáng đứng của riêng “anh”, vừa là biểu tượng chung - “dáng đứng Việt Nam”. Từ hình tượng cá thể đã biến thành biểu tượng lịch sử - tư thế tinh thần của dân tộc kiên cường, bất khuất, bình dị, sáng trong.

Nhà thơ Lê Anh Xuân (bìa trái), bà Loan - vợ nhà văn Anh Đức và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu tại Hà Nội năm 1964. Ảnh tư liệu 

Nhà thơ Lê Anh Xuân (bìa trái), bà Loan - vợ nhà văn Anh Đức và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu tại Hà Nội năm 1964. Ảnh tư liệu 

Người anh hùng ngã xuống để “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”!

Hình tượng người anh hùng được đặt trong sự thống nhất giữa cái phi thường và cái bình thường. Một đôi dép dưới chân anh, cho thấy Anh là con người của đời sống thường ngày, giản dị. Thậm chí là vô danh cùng sự cống hiến trọn vẹn, tuyệt đối cho Tổ quốc: “Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường”. Chỉ một thời gian ngắn sau khi viết xong "Dáng đứng Việt Nam" bất hủ, ngày 24-5-1968, nhà thơ ngã xuống trong một trận càn của địch ở vùng ven Sài Gòn. Hai mươi tám tuổi, đang độ chín của tài năng. Đúng như câu thơ của Thanh Thảo: “Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”. Biết bao người như anh hùng Lê Anh Xuân đã chết, để Tổ quốc được sống.

 Tác phẩm của nhà thơ Lê Anh Xuân. 

 Tác phẩm của nhà thơ Lê Anh Xuân. 

Trong hồ sơ đi B (Tờ 25- Hồ sơ 1429, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, TTLTQG III) hiện lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia có tờ ghi nguyện vọng của Ca Lê Hiến, có câu: “… tôi có thể đi bất cứ nơi nào Đảng cần đến. Nguyện vọng và quyết tâm của tôi là được về miền Nam, về lại quê hương tôi”. Đó không còn là câu chữ bình thường, mà là chất vàng ròng lý tưởng, của anh hùng Lê Anh Xuân, của một thời đại anh hùng, đã trở thành tài sản vô giá cho hôm nay, cho ngày mai.

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/anh-hung-luc-luong-vu-trang-nhan-dan/le-anh-xuan-nguoi-tac-vao-tho-dang-dung-viet-nam-1061945