Điện ảnh mở lối cho du lịch, đánh thức tiềm năng công nghiệp văn hóa

Điện ảnh đang mở ra một hướng đi giàu tiềm năng cho công nghiệp văn hóa, nơi mỗi tác phẩm có thể trở thành một sản phẩm quảng bá du lịch và khơi nguồn cho những giá trị kinh tế mới.

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Trong định hướng đó, điện ảnh có lợi thế đặc biệt bởi khả năng kết hợp giữa sáng tạo nghệ thuật, công nghệ, truyền thông, thương mại và quảng bá hình ảnh đất nước. Một bộ phim được đầu tư bài bản, có câu chuyện hấp dẫn và mang đậm dấu ấn văn hóa có thể trở thành một hình thức truyền thông hiệu quả, đưa hình ảnh Việt Nam đến với công chúng trong nước và quốc tế.

Điện ảnh bước vào một chuỗi giá trị rộng lớn

Trong kỷ nguyên của kinh tế sáng tạo, giá trị của một bộ phim không còn chỉ được đo đếm bằng doanh thu phòng vé, số lượng người xem trên truyền hình hay giải thưởng nghệ thuật. Một tác phẩm điện ảnh thành công còn có thể tạo ra những hiệu ứng vượt ra ngoài khuôn khổ màn ảnh, góp phần định hình hình ảnh một vùng đất, khơi dậy sự tò mò về văn hóa bản địa và thúc đẩy dòng khách du lịch tìm đến những địa danh xuất hiện trong phim. Khi khán giả không chỉ xem mà còn muốn được sống trong không gian câu chuyện, điện ảnh đã thực sự bước vào một chuỗi giá trị rộng lớn hơn, gắn kết nghệ thuật với du lịch, dịch vụ và các ngành công nghiệp văn hóa.

Con đường vào làng Sảo Há ở Hà Giang, bối cảnh bộ phim "Tết ở làng Địa ngục"

Con đường vào làng Sảo Há ở Hà Giang, bối cảnh bộ phim "Tết ở làng Địa ngục"

Ra mắt năm 2023, “Tết ở làng Địa ngục” không chỉ tạo dấu ấn với dòng phim kinh dị Việt mà còn đưa Sảo Há từ một ngôi làng người Mông ở Vần Chải- Hà Giang (nay là Tuyên Quang) vốn được rất ít người biết đến trở thành một địa điểm được khán giả tìm đến khám phá sau khi bộ phim lên sóng. Những ngôi nhà trình tường cổ kính với bao quanh là hàng rào đá, con đường quanh co giữa núi rừng và khung cảnh mờ sương… từng xuất hiện trên màn ảnh đã thôi thúc nhiều người tìm đến tận nơi để khám phá, trải nghiệm và check-in.

Từ một bối cảnh điện ảnh, Sảo Há dần được nhận diện như một điểm du lịch trải nghiệm độc đáo, cho thấy sức mạnh của điện ảnh trong việc quảng bá cảnh quan, văn hóa bản địa và đánh thức tiềm năng du lịch của những vùng đất còn ít được biết đến.

Cũng trong năm 2023, bộ phim truyền hình Trung Quốc “Đi đến nơi có gió” (Meet Yourself) với sự tham gia của Lưu Diệc Phi và Lý Hiện, đã tạo nên hiệu ứng đáng chú ý khi đưa vẻ đẹp bình yên, thơ mộng của Đại Lý, tỉnh Vân Nam, đến với đông đảo khán giả.

Không có những tình tiết kịch tính hay câu chuyện hoành tráng, bộ phim chinh phục người xem bằng hành trình chữa lành, khởi đầu lại cuộc sống giữa thiên nhiên trong lành, những ngôi làng cổ, cánh đồng hoa, hồ Nhĩ Hải và nhịp sống chậm rãi của người dân địa phương. Chính những khuôn hình giàu chất thơ ấy đã khơi dậy mong muốn của không ít khán giả: “Được trải nghiệm một Đại Lý ngoài đời thực”!.

Bộ phim truyền hình Trung Quốc “Đi đến nơi có gió” (Meet Yourself) với sự tham gia của Lưu Diệc Phi và Lý Hiện, đã tạo nên hiệu ứng đáng chú ý khi đưa vẻ đẹp bình yên, thơ mộng của Đại Lý, tỉnh Vân Nam, đến với đông đảo khán giả.

Bộ phim truyền hình Trung Quốc “Đi đến nơi có gió” (Meet Yourself) với sự tham gia của Lưu Diệc Phi và Lý Hiện, đã tạo nên hiệu ứng đáng chú ý khi đưa vẻ đẹp bình yên, thơ mộng của Đại Lý, tỉnh Vân Nam, đến với đông đảo khán giả.

Hiệu ứng từ bộ phim nhanh chóng chuyển thành sức hút du lịch. Sau khi phim lên sóng, lượng đơn đặt các chuyến du xuân đến Đại Lý tăng vọt. Báo chí Trung Quốc thời điểm đó từng ghi nhận, lượng khách đến các địa điểm quay phim tăng từ khoảng 50–100 người lên gần 3.000 người mỗi ngày. Những địa danh như Phượng Dương Ấp, Sa Khê cổ trấn, Hỷ Châu và hồ Nhĩ Hải trở thành điểm check-in được nhiều khán giả săn tìm.

Sa Khê cổ trấn - bối cảnh phim Đi đến nơi có gió ở Vân Nam, Trung Quốc

Sa Khê cổ trấn - bối cảnh phim Đi đến nơi có gió ở Vân Nam, Trung Quốc

Xa hơn nữa, năm 2015, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của đạo diễn Victor Vũ ra mắt với phần lớn bối cảnh được thực hiện tại Phú Yên. Sau khi phim công chiếu, báo chí ghi nhận lượng khách đến các địa điểm xuất hiện trong phim tăng mạnh, thậm chí các đơn vị lữ hành đã xây dựng tour theo chính những điểm quay của tác phẩm.

Điều đáng nói là trước khi xuất hiện trên màn ảnh, Phú Yên vốn đã sở hữu tài nguyên du lịch phong phú với biển, núi, ghềnh đá, đồng bằng và những giá trị văn hóa đặc sắc. Tuy nhiên, một bộ phận công chúng chưa thực sự biết đến vẻ đẹp ấy. Điện ảnh đã làm một công việc mà những hình thức quảng bá thông thường khó thực hiện trọn vẹn: kể một câu chuyện có sức lay động, để cảnh sắc tự nhiên thấm vào cảm xúc người xem.

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của đạo diễn Victor Vũ ra mắt với phần lớn bối cảnh được thực hiện tại Phú Yên

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của đạo diễn Victor Vũ ra mắt với phần lớn bối cảnh được thực hiện tại Phú Yên

Thay vì chỉ giới thiệu một danh lam thắng cảnh bằng những hình ảnh quảng cáo, bộ phim đặt cảnh quan vào đời sống con người, gắn không gian với ký ức tuổi thơ, tình thân và những giá trị tinh thần gần gũi. Từ đây, một vùng đất không còn đơn thuần là địa danh trên bản đồ mà trở thành một không gian cảm xúc. Khán giả tìm đến Phú Yên không chỉ để ngắm biển hay chụp một bức ảnh đẹp, mà còn để tìm lại cảm giác bình yên, trong trẻo đã từng rung động khi xem phim. Đó chính là giá trị khác biệt mà điện ảnh có thể tạo ra cho du lịch: xây dựng sự gắn kết giữa điểm đến và trải nghiệm tinh thần của du khách.

Từ hiệu ứng màn ảnh đến xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa

Những ví dụ trên cho thấy mối quan hệ giữa điện ảnh và du lịch không đơn thuần là sự hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động quảng bá. Đây là mối liên kết có khả năng hình thành một chuỗi giá trị kinh tế sáng tạo, trong đó mỗi lĩnh vực vừa tạo ra sản phẩm độc lập, vừa mở rộng thị trường cho các lĩnh vực khác.

Một bộ phim thành công có thể kéo theo nhu cầu về tour tham quan bối cảnh, dịch vụ lưu trú, ẩm thực, quà lưu niệm, sản phẩm thủ công, hoạt động trải nghiệm văn hóa…. Khi du khách đến một địa phương vì bộ phim, họ có thể tiếp tục khám phá những di sản, làng nghề, lễ hội và phong tục tập quán nơi đó. Từ một tác phẩm điện ảnh, nhiều sản phẩm và dịch vụ văn hóa khác có cơ hội được hình thành, tạo thêm sinh kế cho cộng đồng và đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương.

Mối tình đầu được phát sóng từ năm 1996 đến năm 1997. Bộ phim này được coi là khởi đầu của làn sóng Hallyu - Hàn Quốc

Mối tình đầu được phát sóng từ năm 1996 đến năm 1997. Bộ phim này được coi là khởi đầu của làn sóng Hallyu - Hàn Quốc

Lấy câu chuyện từ sự phát triển vượt bậc của Hàn Quốc, Nhà Biên kịch, Tiến sĩ Đặng Thiếu Ngân - Khoa Nghệ thuật và Thiết kế - Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, thành công của Hàn Quốc, không phải chỉ nhờ họ có đầu óc nhạy bén trong kinh doanh hay “ăn may” mà có. Hơn thế, Công nghiệp Văn hóa được khẳng định là một ngành Kinh tế mũi nhọn.

Từ một tác phẩm điện ảnh, nhiều sản phẩm và dịch vụ văn hóa khác có cơ hội được hình thành, tạo thêm sinh kế cho cộng đồng và đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương.

Ngay từ đầu những năm 2000, với chiến dịch Dynamic Korea, Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc cải tổ đồng bộ toàn diện về hình ảnh của mình, thông qua các ấn phẩm Văn hóa – tạo sức hút tăng nguồn thu từ Du lịch nhờ có lực lượng người hâm mộ đông đảo, do yêu thích những nhân vật trên phim, hâm mộ thần tượng âm nhạc. Để có được thành công của K-Culture, Hàn Quốc dành rất nhiều tâm huyết để tạo ra những giá trị sáng tạo mang dấu ấn rất riêng. Có thể nói, “Sáng tạo”, “Quyết liệt” chính là hai yếu tố đầu tiên, góp phần mang lại thành công cho Hàn Quốc.

Hàng cây nổi tiếng trong phim "Bản tình ca mùa Đông" từng "gây sốt" một thời ở Hàn Quốc

Hàng cây nổi tiếng trong phim "Bản tình ca mùa Đông" từng "gây sốt" một thời ở Hàn Quốc

Cũng theo Nhà biên kịch Đặng Thiếu Ngân, một sản phẩm văn hóa của Hàn Quốc khi thành công, luôn tạo ra sự cộng hưởng để có những thành công cho hàng loạt yếu tố “ăn theo”, khởi nguồn từ chiến lược kinh doanh rất bình thường từ những năm đầu thập niên 90, khi phim truyền hình Hàn Quốc bước đầu có thay đổi tích cực, sau sự kiện Thế vận hội thể thao Olimpic 1988.

Khi đó, Hàn Quốc kỳ vọng đưa hình ảnh năng động, hiện đại và có phần giàu có lên phim, trước tiên để “chấn chỉnh” ý thức của người dân trong nước. Những người có trách nhiệm cho rằng, phim ảnh là hình thức giáo dục hiệu quả nhất, nhanh nhất. Nhìn những hình ảnh lịch lãm, xinh đẹp, ứng xử văn minh trên phim xem hàng ngày, chắc chắn khán giả sẽ học hỏi được.

Và quả đúng như vậy, xã hội Hàn Quốc đã kịp... “bắt trend” ngay sau những thành công của các bộ phim. Thanh niên để ý đến ngoại hình nhiều hơn, chú ý đến hình ảnh Quốc gia hơn. Cơ chế hoạt động của PPL – “quảng cáo trá hình” nở rộ, do chính các Tập đoàn kinh tế lớn...tham gia tài trợ kinh phí sản xuất, đổi lại họ đưa hình ảnh sản phẩm vào phim.

Song Seung Hun, Song Hye Kyo và Won Bin - 3 diễn viên chính của phim "Trái tim mùa thu"

Song Seung Hun, Song Hye Kyo và Won Bin - 3 diễn viên chính của phim "Trái tim mùa thu"

Sau này, nhờ việc tham gia tài trợ cho phim ảnh, kênh truyền dẫn – tạo nên Hallyu – Làn sóng Hàn Quốc, các Tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc khi ra nước ngoài đầu tư, đã mang theo phim ảnh làm quà tặng miễn phí, đưa đến các Đài truyền hình nước sở tại nhằm mục đích quảng bá về hình ảnh, con người, đất nước mình.

Cứ như vậy, việc liên kết giữa Đơn vị chế tác – Đài truyền hình – Các Công ty tư vấn – Bộ phận kinh doanh – Các địa phương – Các ngành nghề đặc thù...liên tục có sự bàn thảo, gắn kết. Việc hợp tác ngày một chuyên nghiệp hơn và cho đến nay, trước khi bắt đầu một dự án văn hóa – nghệ thuật hay sự kiện giải trí, Hàn Quốc luôn lên những kế hoạch từng phần, giống như các module để ráp lại với nhau. Có nghĩa, từ khi chuẩn bị viết kịch bản, các nhà biên kịch đã biết họ cần tập trung vào những gì vì Công nghiệp Văn hóa của Hàn Quốc hiện không phải chỉ là ngành Giải trí, mà là một ngành Kinh tế mũi nhọn hàng đầu.

Du lịch đôi khi bắt đầu bằng những thứ rất nhỏ

Chia sẻ cùng PV ANTĐ, nhà báo, travel blogger Nick M (tên thật Mai Như Ngọc) cho biết, người Hàn Quốc có một điểm rất giỏi là họ không cố chứng minh văn hóa của mình đặc biệt. Họ cứ để nhân vật sống một cách rất tự nhiên bên trong nền văn hóa ấy. Một bát mì xuất hiện vì nhân vật đang đói, một quán pojangmacha xuất hiện vì hai người cần một nơi để tâm sự, một con phố mùa thu trở nên đáng nhớ vì ở đó có một cuộc chia tay. Sau đó khán giả mới phát hiện, à hóa ra mình cũng muốn ngồi trong quán ấy, ăn món ấy, đi trên con đường ấy. Tức là họ bán cảm xúc trước, rồi điểm đến tự bán mình sau.

Làng Sảo Há ở Hà Giang

Làng Sảo Há ở Hà Giang

Cùng quan điểm với Nhà biên kịch Đặng Thiếu Ngân, Travel blogger Nick M, cũng cho rằng, cái nổi trội của Hàn Quốc còn ở tính nhất quán. Phim ảnh, K-pop, thời trang, mỹ phẩm, ẩm thực, game, du lịch của Hàn Quốc không tồn tại như những hòn đảo riêng biệt. Chúng liên tục dẫn người xem từ cánh cửa này sang cánh cửa khác. Bạn xem một bộ phim, nghe một bài hát, tìm món ăn, mua mỹ phẩm, rồi cuối cùng đặt vé máy bay. Đấy là một hành trình tiêu dùng văn hóa gần như hoàn chỉnh. Và có lẽ điều đáng học nhất là họ không ngại kể những thứ rất đời thường. Có khi thứ khiến người ta muốn đến Seoul không phải cung điện mà chỉ là một cửa hàng tiện lợi lúc hai giờ sáng hay một bờ sông nơi nhân vật ngồi uống soju. Du lịch đôi khi bắt đầu bằng những thứ rất nhỏ.

Một cảnh trong bộ phim Tết ở làng Địa Ngục

Một cảnh trong bộ phim Tết ở làng Địa Ngục

Vậy thì, muốn tạo ra chuỗi giá trị từ điện ảnh đến du lịch, Việt Nam phải làm thế nào? Nhà biên kịch Đặng Thiếu Ngân đưa ra quan điểm, cần phải tập trung vào “câu chuyện của riêng Việt Nam”.

“Chúng ta phải có những câu chuyện hấp dẫn, thú vị, chạm đến cảm xúc của số đông chứ không phải chỉ là những hình ảnh được quay, phát như hiện tại. Đây thuộc về khả năng Sáng tạo, điều mà Hàn Quốc đã đầu tư rất rất nhiều công sức để có thể tạo ra những câu chuyện của mình” – Biên kịch phim “Sống chung với mẹ chồng” cho biết.

Còn Travel blogger Nick M khẳng định, Việt Nam không thiếu chất liệu, hay nói đúng hơn là còn “hơi giàu”. Từ Hà Giang đến Cà Mau, mỗi vài trăm kilomet lại có một hệ ẩm thực, âm nhạc, kiến trúc, phong tục và ký ức cộng đồng khác nhau. Vấn đề của chúng ta không phải là có gì để kể mà là kể điều gì trước, kể cho ai và kể bằng ngôn ngữ nào. Chúng ta đôi khi có một căn bếp đầy nguyên liệu ngon nhưng lại muốn cho tất cả vào cùng một món.

Việt Nam không thiếu chất liệu, hay nói đúng hơn là còn “hơi giàu”. Từ Hà Giang đến Cà Mau, mỗi vài trăm kilomet lại có một hệ ẩm thực, âm nhạc, kiến trúc, phong tục và ký ức cộng đồng khác nhau. Vấn đề của chúng ta không phải là có gì để kể mà là kể điều gì trước, kể cho ai và kể bằng ngôn ngữ nào...

Một sản phẩm văn hóa muốn đi xa cần sự lựa chọn rất quyết liệt. Không phải một bộ phim có 120 phút thì chúng ta cố đưa vào 120 nét đẹp Việt Nam. Khán giả quốc tế trước hết cần một câu chuyện đủ hay. Nếu họ yêu nhân vật, họ sẽ tò mò về thế giới của nhân vật ấy. Nhưng cách kể chuyện mới chỉ là một nửa vấn đề, nửa còn lại là hệ sinh thái.

Một bộ phim khiến khán giả quốc tế quan tâm đến Huế nhưng sau đó họ không dễ dàng tìm được thông tin, trải nghiệm, tour, món ăn, địa điểm quay phim hay những nội dung tiếp nối thì cảm xúc rất dễ trôi qua. Cơ hội của công nghiệp văn hóa nằm ở việc kéo dài tuổi thọ của sự tò mò ấy.

“Tôi nghĩ chúng ta cần chuyển từ tư duy “giới thiệu văn hóa Việt Nam” sang “xây dựng những IP văn hóa mà thế giới muốn bước vào”. Hai cách nói nghe gần giống nhau nhưng tư duy hoàn toàn khác. Một bên bắt đầu từ việc chúng ta muốn nói gì về mình. Bên kia bắt đầu từ câu hỏi rằng điều gì trong câu chuyện Việt Nam có thể khiến một người chưa từng biết Việt Nam cũng rung động?”

Tất nhiên, phát triển du lịch theo dấu chân điện ảnh cũng đặt ra những yêu cầu không thể xem nhẹ. Sự gia tăng đột biến lượng khách tại một số địa điểm có thể tạo sức ép lên môi trường, cảnh quan và đời sống người dân. Những địa danh vốn yên bình có nguy cơ bị thương mại hóa, xây dựng thiếu kiểm soát hoặc khai thác quá mức để phục vụ nhu cầu check-in.

Bởi vậy, hiệu ứng từ điện ảnh cần được chuyển hóa thành lợi ích bền vững, thay vì chỉ tạo nên những cơn sốt du lịch ngắn hạn. Bảo tồn cảnh quan, tôn trọng văn hóa bản địa, nâng cao chất lượng dịch vụ và phân chia hợp lý lợi ích kinh tế cần trở thành những nguyên tắc quan trọng trong quá trình triển khai.

Quỳnh Vân

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/dien-anh-mo-loi-cho-du-lich-danh-thuc-tiem-nang-cong-nghiep-van-hoa-post670641.antd