Điện ảnh Việt Nam:Từ sức bật phòng vé đến hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác hiệu quả nguồn lực và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Trong định hướng đó, điện ảnh có lợi thế đặc biệt khi kết hợp sáng tạo nghệ thuật với công nghệ, truyền thông, thương mại và quảng bá hình ảnh đất nước.

Tuy nhiên, để trở thành ngành công nghiệp văn hóa đúng nghĩa, điện ảnh Việt Nam cần vượt qua những thành công riêng lẻ, từng bước hình thành cấu trúc phát triển đồng bộ và bền vững.

Một số tác phẩm thuộc nhiều thể loại, đề tài đã tạo dấu ấn tại phòng vé, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện ảnh

Một số tác phẩm thuộc nhiều thể loại, đề tài đã tạo dấu ấn tại phòng vé, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện ảnh

Sức bật phòng vé và những giới hạn của tăng trưởng

Năm 2025 đánh dấu bước phát triển nổi bật của thị trường điện ảnh Việt Nam. Tổng doanh thu toàn thị trường đạt xấp xỉ 6.140 tỉ đồng, với hơn 70 triệu lượt vé phát hành. Phim Việt chiếm 62% thị phần, có 55 tác phẩm ra rạp, mức cao nhất từ trước đến nay. Đáng chú ý, có 9 phim đạt doanh thu trên 100 tỉ đồng, trong đó Mưa đỏ tạo dấu ấn đặc biệt khi vượt mốc 700 tỉ đồng.

Bước sang năm 2026, đà phát triển tiếp tục được duy trì. Theo dữ liệu từ Box Office Vietnam, doanh thu phim Việt trong quý I đạt 1.080 tỉ đồng, gần tương đương mức 1.108 tỉ đồng cùng kỳ năm trước nhờ hiệu ứng mùa phim Tết. Nhiều tác phẩm thuộc các thể loại, đề tài khác nhau đạt doanh thu trăm tỉ đồng như Thỏ ơi!! (447 tỉ), Nhà ba tôi một phòng (111 tỉ), Thiên đường máu (126 tỉ), Báu vật trời cho (103 tỉ), Tài (113 tỉ), Quỷ nhập tràng 2 (134 tỉ), Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng (hơn 180 tỉ)...

Tuy nhiên, theo Box Office Vietnam, tính đến cuối tháng 9.2026, tổng doanh thu phim Việt đạt khoảng 2.910 tỉ đồng, thấp hơn khoảng 942 tỉ so với mức 3.852 tỉ cùng kỳ năm 2025.

Những con số cho thấy phim Việt ngày càng có khả năng chinh phục khán giả trong nước, tạo ra các sản phẩm có sức lan tỏa xã hội và cạnh tranh với phim ngoại nhập. Thành công của Mưa đỏ, Mai hay Lật mặt 7: Một điều ước cũng cho thấy thị trường nội địa có sức mua đáng kể, sẵn sàng đón nhận những tác phẩm phù hợp với nhu cầu và tâm lý khán giả.

Tuy nhiên, phía sau những kỷ lục vẫn là khoảng cách lớn giữa các bộ phim. Số lượng tác phẩm có doanh thu thấp còn cao; thị trường có xu hướng tập trung vào một số mùa chiếu, những gương mặt được xem là bảo chứng phòng vé và các công thức thể loại quen thuộc như hài gia đình, kinh dị, tâm lý xã hội. Thành công của một số phim chưa đồng nghĩa với năng lực phát triển ổn định của toàn ngành.

TS Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, nhận định điện ảnh nước nhà đang tăng trưởng theo từng “điểm sáng”, thay vì phát triển như một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Theo bà, những hạn chế thể hiện ở việc thành công chưa có tính lặp lại, chuỗi giá trị từ phát triển kịch bản, sản xuất, phát hành đến khai thác tài sản trí tuệ chưa hoàn chỉnh, đồng thời chưa hình thành hệ thống hãng phim hay doanh nghiệp nội dung quy mô lớn.

“Nói cách khác, Việt Nam đã có lực lượng làm phim ngày càng năng động và những tác phẩm tạo dấu ấn, nhưng để hình thành một ngành công nghiệp điện ảnh thực thụ, cần nhiều hơn những bộ phim ăn khách. Đó phải là một hệ thống có khả năng nuôi dưỡng sáng tạo, huy động vốn, phát triển công nghệ, tổ chức sản xuất, phân phối và khai thác giá trị tác phẩm trong dài hạn”, TS Ngô Phương Lan cho biết.

Kết nối chuỗi giá trị

Trong khi đó, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xác định điện ảnh là một trong 10 ngành trọng tâm, góp phần quảng bá lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia, trong đó có điện ảnh.

Để đạt được mục tiêu này, cần có những giải pháp đồng bộ. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Tạ Quang Đông nhận định, điện ảnh vừa là nghệ thuật, vừa là phương thức hiệu quả để quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ra thế giới, qua đó góp phần tạo dựng sức mạnh mềm quốc gia. Trong giai đoạn phát triển mới, cần hướng tới xây dựng ngành công nghiệp văn hóa hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế và lan tỏa hình ảnh Việt Nam. Chính sách vì thế cần tạo môi trường để các thành tố trong ngành liên kết, phát triển lâu dài, thay vì chỉ hỗ trợ từng dự án.

Đồng quan điểm, TS Ngô Phương Lan cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở việc thiếu tài năng mà ở cấu trúc phát triển. Chính sách chưa theo kịp thị trường và công nghệ; cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, quỹ phát triển điện ảnh còn thiếu hoặc chưa đủ mạnh. Hạ tầng sản xuất, từ trường quay, trung tâm hậu kỳ đến kỹ xảo và nhân lực chuyên sâu, cũng chưa đáp ứng yêu cầu.

Cùng với đó, thị trường quốc tế vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Phim Việt chủ yếu dựa vào doanh thu trong nước, thiếu chiến lược phát hành dài hạn. Việc khai thác tài sản trí tuệ còn hạn chế; chưa có nhiều mô hình liên kết điện ảnh với truyền hình, trò chơi và nền tảng số. Vi phạm bản quyền tiếp tục làm suy giảm giá trị sáng tạo và nguồn thu.

Trong kỷ nguyên số, các nền tảng OTT và mạng xã hội tạo thêm con đường đưa phim Việt đến với khán giả ngoài biên giới địa lý. Trí tuệ nhân tạo, kỹ xảo số và công nghệ sản xuất ảo có thể nâng cao chất lượng hình ảnh, rút ngắn thời gian, giảm chi phí. Dữ liệu khán giả giúp nhà sản xuất hiểu nhu cầu và xây dựng chiến lược phát hành phù hợp. Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế sáng tạo hay tự bảo đảm thành công thương mại. Hiệu quả vẫn đòi hỏi kịch bản có chiều sâu, đội ngũ chuyên môn và cơ chế bảo vệ bản quyền.

Nguồn chất liệu lịch sử, di sản và đời sống đương đại Việt Nam cần được chuyển hóa thành những câu chuyện có ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, đủ sức chạm tới khán giả trong nước và quốc tế.

Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, Nhật Bản, TS Ngô Phương Lan đề xuất xây dựng hệ sinh thái gắn kết chính sách, quỹ hỗ trợ, hạ tầng và thương hiệu. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện ưu đãi đầu tư, vận hành Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh, tạo điều kiện hợp tác quốc tế và sản xuất xuyên biên giới; đồng thời phát triển trường quay, trung tâm hậu kỳ, cơ sở dữ liệu số về điện ảnh và tài nguyên văn hóa. Đào tạo nhân lực, hỗ trợ nhà sáng tạo trẻ, bảo vệ bản quyền và mở rộng phát hành quốc tế là những mắt xích thiết yếu.

Nhà nước cần hoàn thiện chính sách theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phim đặt hàng phục vụ nhiệm vụ chính trị và quảng bá điện ảnh gắn với văn hóa, du lịch. Đồng thời, cần huy động nguồn lực tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nội dung.

Điện ảnh cần được nhìn nhận đồng thời như một nghệ thuật và ngành kinh tế sáng tạo. Mục tiêu không chỉ là sản xuất thêm phim hay chờ đợi những kỷ lục phòng vé, mà còn phải tạo được năng lực để thành công được tiếp nối, giá trị tác phẩm được khai thác lâu dài và người làm phim có môi trường sáng tạo ổn định. Khi chuỗi giá trị được kết nối, điện ảnh mới có thể chuyển những điểm sáng thành sức mạnh của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

HÀ AN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/nghe-thuat/tu-suc-bat-phong-ve-den-he-sinh-thai-cong-nghiep-van-hoa-277549.html