Điện Biên: Chuyển đổi số để người dân vùng cao không bị bỏ lại phía sau
Từ vùng núi chia cắt, sinh kế dựa vào nương rẫy tự cung tự cấp, Điện Biên đang từng bước thay đổi cách tiếp cận giảm nghèo. Chuyển đổi số, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số được xác định là động lực mới, giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ, thị trường và cơ hội phát triển bền vững.

Điện Biên lan tỏa việc ứng dụng công nghệ vào các lĩnh vực của đời sống.
Giai đoạn 2021–2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Điện Biên, khi giảm nghèo được đặt trong tổng thể tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực quản trị và ứng dụng khoa học – công nghệ. Nghị quyết số 17-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành cuối năm 2021 đã xác lập rõ định hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gắn giảm nghèo bền vững với xây dựng hạ tầng, đào tạo nghề và chuyển đổi số.
KINH TẾ SỐ MỞ ĐƯỜNG CHO SINH KẾ VÙNG SÂU, VÙNG XA
Theo báo cáo của tỉnh, trong giai đoạn này, Điện Biên được Trung ương phân bổ hơn 2.063 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Nguồn lực không chỉ tập trung hỗ trợ trực tiếp, mà được phân bổ theo các dự án có tính dài hạn, hướng đến thay đổi phương thức sản xuất, quản lý và kết nối thị trường.
Cách tiếp cận mới thể hiện rõ ở việc triển khai 7 dự án trọng điểm, hơn 200 mô hình sinh kế phù hợp theo vùng, theo nhóm dân tộc, gắn với đào tạo kỹ thuật, tín dụng ưu đãi và từng bước ứng dụng công nghệ. Người dân không còn là đối tượng thụ hưởng đơn thuần, mà trở thành chủ thể tham gia vào chuỗi sản xuất – tiêu thụ, từng bước tiếp cận kinh tế hàng hóa.
Tại nhiều địa bàn khó khăn như Mường Nhé, Sín Thầu, Tủa Chùa, chuyển đổi sinh kế đang diễn ra song hành với việc thay đổi tư duy sản xuất. Việc phát triển các vùng cây trồng chủ lực như cao su, quế, mắc ca, cà phê, dược liệu không chỉ dừng ở khâu trồng trọt, mà được gắn với quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ.
Nhiều sản phẩm đặc trưng của Điện Biên như cà phê Mường Ảng, chè Tủa Chùa, gạo nếp nương, thịt trâu sấy đã đạt chứng nhận OCOP, từng bước tiếp cận các kênh phân phối hiện đại. Việc ứng dụng tem QR, quản lý dữ liệu vùng trồng và xây dựng sàn thương mại điện tử cho nông sản chủ lực đang mở ra hướng đi mới, giúp sản phẩm vùng cao tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, giảm phụ thuộc vào thương lái truyền thống.
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2025 toàn tỉnh đã triển khai khoảng 110 dự án sản xuất theo chuỗi giá trị và 338 dự án cộng đồng. Các mô hình này được thiết kế theo hướng tăng hàm lượng kỹ thuật, có sự tham gia của hợp tác xã và doanh nghiệp, từng bước hình thành nền tảng kinh tế số ở khu vực nông thôn miền núi.
Song song với phát triển kinh tế số, Điện Biên xác định xây dựng chính quyền số là điều kiện để vùng sâu, vùng xa không bị “đứt gãy” trong tiếp cận dịch vụ công. Việc số hóa dữ liệu dân cư, đất đai, tín dụng chính sách, y tế và giáo dục giúp người dân giảm chi phí tiếp cận, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
KHÔNG ĐỂ KHOẢNG CÁCH NỚI RỘNG, ĐỘNG LỰC MỚI CHO GIAI ĐOẠN 2026 – 2030
Giai đoạn 2021–2025, tỉnh đã triển khai 862 dự án hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, điện, thủy lợi; tín dụng chính sách được mở rộng đến tận thôn bản với hơn 395.000 lượt hộ nghèo và cận nghèo được vay vốn ưu đãi. Việc kết nối hạ tầng vật chất với hạ tầng số đang tạo điều kiện để các chính sách an sinh, hỗ trợ sinh kế được triển khai nhanh hơn, minh bạch hơn.
Đào tạo nghề và tạo việc làm tiếp tục là trụ cột quan trọng. Riêng năm 2024, Điện Biên giải quyết việc làm mới cho hơn 11.000 lao động, tuyển sinh đào tạo nghề cho gần 11.000 học viên, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng được kỳ vọng sẽ trở thành “hạt nhân số” tại cộng đồng, từng bước lan tỏa kỹ năng mới vào sản xuất và dịch vụ.
Theo báo đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 17,66%, bình quân giảm gần 4%/năm; riêng các địa bàn đặc biệt khó khăn giảm hơn 5,5%/năm.
Dù vậy, tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận những thách thức còn tồn tại. Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP của tỉnh năm 2025 đạt 7,34% nhưng thu hút vốn ngoài ngân sách và năng lực hành chính ở một số địa bàn còn hạn chế. Khoảng cách giữa các xã vùng cao và vùng thấp vẫn lớn, trong khi thiên tai và biến động thị trường tiếp tục tạo áp lực lên sinh kế người dân.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được xác định là công cụ để thu hẹp khoảng cách phát triển. Từ quản lý đất đai, rừng, thủy lợi đến cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ, việc ứng dụng công nghệ giúp giảm rủi ro, nâng cao giá trị và tăng khả năng chống chịu của kinh tế vùng cao.
Theo lãnh đạo tỉnh Điện Biên, giai đoạn tới sẽ tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng quy mô, ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số toàn diện. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt trên 3.000 tỷ đồng; mở rộng diện tích mắc ca, cà phê; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 47% và có 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Đối với các sản phẩm chủ lực, Điện Biên sẽ đẩy mạnh công nghệ nhân giống, bảo tồn nguồn gene, hoàn thiện chứng nhận hữu cơ và áp dụng tem điện tử truy xuất nguồn gốc. Các mô hình nhà màng, canh tác thông minh, tưới tiết kiệm, lúa thông minh sẽ được nhân rộng theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, gắn với đào tạo kỹ năng số cho nông dân.
Cùng với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, phân loại rừng, số hóa thông tin sản xuất và kết nối doanh nghiệp chế biến lớn được kỳ vọng sẽ hình thành các chuỗi giá trị bền vững, giúp người dân vùng sâu, vùng xa tham gia trực tiếp vào nền kinh tế số.












