Điện đi trước một bước để nền kinh tế tăng tốc
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đang đặt ra yêu cầu rất cao đối với hạ tầng năng lượng. Khi nhu cầu điện tăng nhanh cùng quá trình phục hồi sản xuất, phát triển công nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư, bảo đảm đủ điện đã trở thành điều kiện quan trọng để mở rộng không gian tăng trưởng.

7 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt hơn 203 tỷ kWh. Ảnh: ĐVCC.
Điện phải đón trước tăng trưởng
Điện từ lâu được ví như “mạch máu” của nền kinh tế. Nhưng trong giai đoạn Việt Nam hướng tới tăng trưởng hai con số, yêu cầu đối với hệ thống điện đã cao hơn. không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà phải chủ động tạo dư địa cho tăng trưởng những năm tới.
Áp lực này thể hiện rõ qua tình hình vận hành hệ thống trong 7 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt hơn 203 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ. Công suất phụ tải cực đại liên tục lập kỷ lục mới, phản ánh nhu cầu điện tăng cùng sự phục hồi của sản xuất công nghiệp và đầu tư.
Theo ông Lê Minh, Thành viên Hội đồng khoa học Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, mức tăng phụ tải không chỉ chịu tác động của thời tiết nắng nóng mà còn phản ánh sự phục hồi của nền kinh tế. Nhu cầu điện đang tăng ở cả khu vực công nghiệp, thương mại, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và sinh hoạt dân cư.
Đáng chú ý, cơ cấu phụ tải cũng thay đổi nhanh. Các trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, sản xuất điện tử công nghệ cao và quá trình điện hóa giao thông đang hình thành những nhóm phụ tải mới, đòi hỏi nguồn điện có chất lượng và độ ổn định cao.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng thư ký Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, nếu GDP tăng trưởng 10% trở lên, nhu cầu điện cũng phải tăng nhanh. Dù hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và GDP đã giảm còn khoảng 1,1-1,2 lần nhờ sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, hệ thống vẫn cần bổ sung lượng công suất rất lớn.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, từ nay đến cuối năm dự kiến chỉ có thêm khoảng 1.400 MW từ Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, trong khi hệ thống điện quốc gia cần được bổ sung khoảng 6.000-7.000 MW mỗi năm để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và bảo đảm vận hành an toàn. Nguồn năng lượng tái tạo có ưu thế về phát triển xanh nhưng phụ thuộc thời tiết, do đó vẫn cần các nguồn điện nền có khả năng điều độ.
Yêu cầu “đi trước một bước” vì thế có ý nghĩa đặc biệt đối với đầu tư điện. Một dự án nguồn điện thường mất nhiều năm từ chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đến xây dựng và vận hành. Chậm một dự án hôm nay có thể tạo khoảng trống nguồn cung khi các dự án công nghiệp mới đồng loạt đi vào hoạt động.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện đến năm 2030 cần đạt khoảng 183.000 MW ở kịch bản thấp. Trong khi tổng công suất nguồn hiện mới khoảng 94.000 MW, hệ thống vẫn phải bổ sung lượng công suất rất lớn trong 5 năm tới.
Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) cho biết, nhiều dự án nguồn điện vẫn gặp vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, báo cáo nghiên cứu khả thi, đàm phán hợp đồng mua bán điện và sản lượng hợp đồng. Đây là những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ để bảo đảm tiến độ các dự án theo quy hoạch.
Bên cạnh các dự án nguồn lớn như Nhiệt điện Quảng Trạch I, LNG Quảng Trạch II, Thủy điện Trị An mở rộng, Thủy điện tích năng Bác Ái, việc phát triển nguồn điện nền cũng cần được tính toán hài hòa với quá trình chuyển dịch năng lượng.
Theo chuyên gia năng lượng Phan Xuân Dương, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng, hệ thống vẫn cần những nguồn điện cơ sở để duy trì tính ổn định, nhất là trong những thời điểm phụ tải cao và khả năng phát điện từ các nguồn phụ thuộc thời tiết biến động.
Đầu tư đồng bộ, khai thác hiệu quả
Bảo đảm điện cho tăng trưởng hiện nay không còn đơn giản là xây thêm nhà máy. Khi cơ cấu nguồn chuyển dịch mạnh, hệ thống cần được phát triển đồng bộ từ nguồn phát, lưới truyền tải, lưu trữ năng lượng đến điều độ và quản lý phụ tải.
Một nguồn điện mới chỉ phát huy hiệu quả khi có hạ tầng truyền tải tương ứng. Vì vậy, cùng với thúc đẩy các dự án nguồn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang đẩy nhanh đầu tư lưới điện 500kV, 220kV và 110kV. Trong 7 tháng đầu năm 2026, EVN đã khởi công 98 công trình lưới điện và đóng điện 100 công trình, góp phần nâng khả năng truyền tải, giải tỏa công suất các nguồn điện mới.
Một hướng đi mới là phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS). EVN đặt mục tiêu hoàn thành đóng điện 305 MW BESS trong tháng 8-2026. Khi tỷ trọng điện gió, điện mặt trời tăng, hệ thống lưu trữ sẽ giúp hấp thụ điện khi nguồn phát cao và cung cấp trở lại lúc phụ tải tăng, qua đó tăng tính linh hoạt cho hệ thống.
Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, thời tiết cực đoan đang tạo thêm sức ép đối với hệ thống điện. Nắng nóng vừa làm phụ tải tăng mạnh, vừa ảnh hưởng đến hiệu suất một số nhà máy điện. Tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cũng khiến công tác điều độ phức tạp hơn do phụ thuộc thời tiết.
Vì vậy, bên cạnh đầu tư nguồn và lưới, sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh phụ tải cần được xem là một phần của giải pháp bảo đảm điện.
Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO)cho rằng tiết kiệm điện thực chất là một nguồn lực của hệ thống. Dịch chuyển phụ tải ra khỏi giờ cao điểm, sử dụng điện vào thời điểm phù hợp vừa giảm áp lực cho hệ thống, vừa giúp giảm chi phí phát điện.
Các chương trình điều chỉnh phụ tải, ứng dụng công nghệ số trong dự báo nhu cầu và điều hành hệ thống sẽ giúp khai thác tốt hơn hạ tầng hiện có, nhất là trong bối cảnh đầu tư thêm nguồn điện thường đòi hỏi thời gian và nguồn vốn lớn.
Ở phía người sử dụng, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ cũng mở thêm dư địa. Theo ông Hà Đăng Sơn, mô hình này có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí điện, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về giảm phát thải carbon.
Từ thực tế vận hành, ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng giám đốc EVN cho biết, Tập đoàn đang phối hợp với các đơn vị cung cấp than và khí, trong đó có LNG, nhằm bảo đảm nhiên liệu cho các nhà máy điện, nhất là trong mùa khô.
Những giải pháp trên cho thấy bảo đảm điện cho tăng trưởng cần một cách tiếp cận tổng thể. Cùng với nguồn phát, lưới truyền tải và lưu trữ, cơ chế đầu tư, giá điện, giải phóng mặt bằng, huy động vốn và tiến độ dự án đều cần được xử lý đồng bộ.
Trong giai đoạn phát triển mới, điện không đơn thuần là đầu vào của sản xuất mà ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế. Muốn tăng trưởng hai con số, dòng điện không thể chạy theo sau nền kinh tế mà phải đi trước một bước.Một hệ thống điện đủ công suất, ổn định và linh hoạt sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm mở rộng sản xuất, thu hút các ngành công nghệ cao và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dien-di-truoc-mot-buoc-de-nen-kinh-te-tang-toc-1217023.html

