Doanh nghiệp cần hiểu đúng quy định về khám bệnh nghề nghiệp và quản lý người lao động mắc bệnh nghề nghiệp
Khám bệnh nghề nghiệp, quản lý người lao động mắc bệnh nghề nghiệp và quan trắc môi trường lao động là những nội dung doanh nghiệp phải thực hiện theo quy định. Hiểu đúng các yêu cầu này không chỉ bảo đảm tuân thủ pháp luật mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động và xây dựng môi trường làm việc an toàn.
1. Về xác định đối tượng khám phát hiện bệnh nghề nghiệp
Theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần trong năm cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và một số đối tượng theo quy định phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần; đồng thời tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp.
Việc xác định đối tượng khám phát hiện bệnh nghề nghiệp thực hiện theo quy định tại Thông tư số 56/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế và đối chiếu với các bệnh nghề nghiệp, yếu tố gây bệnh, nghề/công việc có nguy cơ quy định tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm:
- "Có tiếp xúc với yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp" là căn cứ quan trọng để xác định đối tượng cần được quản lý sức khỏe và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
- "Kết quả quan trắc môi trường lao động vượt hay không vượt giới hạn tiếp xúc cho phép" là căn cứ để đánh giá mức độ phơi nhiễm, điều kiện lao động và triển khai các biện pháp kiểm soát nguy cơ; không nên hiểu một cách máy móc rằng chỉ khi kết quả quan trắc vượt quy chuẩn Việt Nam(QCVN)/giới hạn tiếp xúc cho phép thì người lao động mới thuộc đối tượng khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
Do đó, cách hiểu của nhiều Công ty rằng "Người lao động chỉ phải khám phát hiện bệnh nghề nghiệp khi và chỉ khi kết quả quan trắc môi trường lao động hằng năm bằng hoặc lớn hơn giới hạn tiếp xúc cho phép" là chưa đầy đủ.
Việc xác định người lao động thuộc đối tượng khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cần căn cứ tổng hợp vào:
Yếu tố có hại/yếu tố nguy cơ bệnh nghề nghiệp thực tế mà người lao động tiếp xúc trong quá trình làm việc;
Nghề, công việc, vị trí làm việc và quá trình tiếp xúc nghề nghiệp;
Kết quả quan trắc môi trường lao động và đánh giá yếu tố tiếp xúc nghề nghiệp;
Bệnh nghề nghiệp tương ứng và yêu cầu về thời gian tiếp xúc tối thiểu, thời gian bảo đảm và các điều kiện liên quan theo quy định chuyên môn hiện hành.

Khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cần dựa vào nhiều yếu tố tổng hợp.
Kết quả quan trắc môi trường lao động là một căn cứ quan trọng để đánh giá phơi nhiễm nhưng không phải là căn cứ duy nhất để loại trừ người lao động khỏi đối tượng khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
Ví dụ, đối với tiếng ồn, nếu người lao động làm việc tại khu vực, công đoạn có phát sinh tiếng ồn và có nguy cơ tiếp xúc nghề nghiệp với tiếng ồn thì doanh nghiệp phải thực hiện nhận diện, đánh giá nguy cơ, quan trắc môi trường lao động, quản lý phơi nhiễm và xác định đối tượng khám phát hiện bệnh điếc nghề nghiệp theo quy định. Không nên áp dụng nguyên tắc đơn giản rằng "≤85 dBA thì đương nhiên không phải khám".
Tương tự, đối với carbon monoxide (CO) hoặc các yếu tố hóa học khác, không thể chỉ căn cứ vào một kết quả đo tại một thời điểm thấp hơn giới hạn cho phép để kết luận người lao động đương nhiên không thuộc đối tượng cần quản lý hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp. Cần xem xét đặc điểm nguồn phát sinh, vị trí công việc, đường tiếp xúc, thời gian và tần suất tiếp xúc, kết quả quan trắc đại diện cho quá trình lao động và bệnh nghề nghiệp có liên quan.
2. Về khám đối với người lao động đã được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp
Sau khi bệnh nghề nghiệp đã được xác định, theo quy định trước đây có quy định khám định kỳ đối với những đối tượng này. Tuy nhiên, tại Thông tư số 56/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 không còn quy định nội dung này. Căn cứ các quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động thì người lao động mắc bệnh nghề nghiệp thuộc đối tượng quản lý sức khỏe, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng, giám định mức suy giảm khả năng lao động và thực hiện các chế độ liên quan theo quy định.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập, quản lý hồ sơ sức khỏe, hồ sơ bệnh nghề nghiệp; theo dõi diễn biến sức khỏe và bệnh nghề nghiệp; bố trí công việc phù hợp với tình trạng sức khỏe; thực hiện các chế độ đối với người lao động mắc bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.
Cần phân biệt:
Khám sức khỏe định kỳ: Là hoạt động kiểm tra tổng quát cơ thể theo lịch hẹn nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe, phát hiện sớm bệnh lý và tư vấn cách phòng ngừa,người lao động đã mắc bệnh nghề nghiệp vẫn thuộc đối tượng khám sức khỏe định kỳ theo quy định chung và theo tính chất nghề, công việc.
Khám phát hiện bệnh nghề nghiệp: Là việc kiểm tra sức khỏe theo lịch cho người làm việc trong môi trường độc hại để tìm sớm tổn thương do nghề nghiệp gây ra mục đích nhằm phát hiện bệnh nghề nghiệp ở người lao động có nguy cơ. đối với một bệnh đã được chẩn đoán xác định thì không cần khám lại với mục đích "phát hiện" chính bệnh đó.
Khám, theo dõi bệnh nghề nghiệp đã mắc: Thực hiện theo yêu cầu quản lý, điều trị, phục hồi chức năng và đánh giá diễn biến bệnh.
Trường hợp người lao động đã mắc một bệnh nghề nghiệp nhưng vẫn đang làm việc và đồng thời tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây các bệnh nghề nghiệp khác, người sử dụng lao động vẫn phải xem xét tổ chức khám phát hiện các bệnh nghề nghiệp khác tương ứng với yếu tố nguy cơ mà người lao động đang tiếp xúc.
Không nên gộp việc quản lý người đã mắc bệnh nghề nghiệp hoàn toàn vào khám sức khỏe định kỳ thông thường, mà phải bảo đảm đồng thời việc khám sức khỏe định kỳ và chế độ quản lý, theo dõi bệnh nghề nghiệp theo quy định.
3. Một số lưu ý về quan trắc môi trường lao động
Để thực hiện thống nhất cần lưu ý, quan trắc môi trường lao động không chỉ nhằm xác định một giá trị "đạt/không đạt QCVN", mà là một bộ phận của quá trình nhận diện, đánh giá và quản lý yếu tố có hại tại nơi làm việc.
Việc quan trắc phải bảo đảm xác định đầy đủ các yếu tố có hại cần quan trắc; vị trí và số lượng mẫu phải đại diện cho điều kiện tiếp xúc của người lao động; thực hiện đúng phương pháp, thời gian lấy mẫu/đo; đánh giá kết quả theo QCVN, tiêu chuẩn hoặc giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp tương ứng.
Đặc biệt đối với tiếng ồn, trường hợp mức tiếp xúc thay đổi theo công đoạn hoặc thời gian trong ca, cần đánh giá mức tiếp xúc đại diện cho ca làm việc hoặc liều tiếng ồn cá nhân khi cần thiết; không chỉ sử dụng một phép đo tức thời tại một vị trí để kết luận về toàn bộ mức phơi nhiễm của người lao động trong ca.
Kết quả quan trắc môi trường lao động cần được sử dụng cùng với hồ sơ vệ sinh lao động, đánh giá nguy cơ nghề nghiệp, đặc điểm công việc và lịch sử tiếp xúc để xác định biện pháp kiểm soát nguy cơ, quản lý sức khỏe và tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp phù hợp.










