Doanh nghiệp cần một lối vào thuận lợi và một lối ra thông thoáng

Muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, chính quyền phải quan tâm đến cả doanh nghiệp mới ra đời, doanh nghiệp đang tìm cách lớn lên và doanh nghiệp cần rút lui khỏi thị trường. Đằng sau câu chuyện thủ tục hành chính là cách nền kinh tế sử dụng nguồn lực của mình và năng suất mà nó tạo ra.

Mỗi khi công bố tình hình kinh tế - xã hội, số doanh nghiệp thành lập mới luôn được chú ý. Địa phương nào có nhiều doanh nghiệp đăng ký, vốn đầu tư tăng thường được xem là có môi trường kinh doanh hấp dẫn; khi số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng, người ta dễ nghĩ đến khó khăn của nền kinh tế. Cách nhìn này có cơ sở nhưng chưa đầy đủ, bởi trong một nền kinh tế phát triển luôn có doanh nghiệp mới ra đời, doanh nghiệp cũ mở rộng, thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động. Doanh nghiệp làm ra sản phẩm tốt, quản trị hiệu quả thì lớn lên, doanh nghiệp không theo kịp nhu cầu khách hàng thì mất dần thị phần, và không ít người sau một lần kinh doanh thất bại lại tìm được cơ hội ở lĩnh vực khác.

Đóng cửa cũng là một phần của thị trường

Nhà kinh tế Hugo Hopenhayn đã phân tích quá trình này trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí kinh tế học Econometrica năm 1992. Từ đó đến nay, nhiều công trình tiếp tục làm rõ vai trò của việc doanh nghiệp gia nhập và rút lui đối với năng suất. Doanh nghiệp mới tạo sức ép cạnh tranh, buộc doanh nghiệp đang hoạt động phải cải tiến sản phẩm, giảm chi phí. Khi một cơ sở kinh doanh kém hiệu quả đóng cửa, máy móc, nhà xưởng, lao động và vốn có cơ hội chuyển sang nơi sử dụng tốt hơn. Các nhà kinh tế gọi đó là tái phân bổ nguồn lực. Lấy một ví dụ gần gũi: một xưởng mộc làm ăn thua lỗ đóng cửa, mặt bằng được một cửa hàng vật liệu xây dựng thuê lại, thợ mộc chuyển sang làm cho một cơ sở nội thất đang thiếu người, máy móc được bán cho nơi có nhiều đơn hàng. Vẫn là nhà xưởng, máy móc và con người cũ, nhưng giờ tạo ra nhiều giá trị hơn. Quá trình này càng thông suốt, năng suất chung của nền kinh tế càng có thể tăng lên, kể cả khi tổng nguồn lực chưa thay đổi nhiều.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh gặp gỡ, trao đổi với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh gặp gỡ, trao đổi với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Vì vậy, một doanh nghiệp đóng cửa chưa hẳn là thất bại của nền kinh tế. Doanh nghiệp có thể đóng cửa vì thua lỗ, thiếu vốn, thị trường suy giảm, cũng có thể vì được sáp nhập, chuyển đổi mô hình hoặc chủ sở hữu chuyển vốn sang lĩnh vực khác. Mỗi trường hợp có nguyên nhân và hệ quả riêng. Dù vậy, số doanh nghiệp rút lui tăng lên vẫn là tín hiệu phải xem xét kỹ: một làn sóng đóng cửa do suy thoái khiến người lao động mất việc, chuỗi cung ứng đứt gãy, năng lực sản xuất bị tổn thất. Điều cần biết là doanh nghiệp rút lui vì sao, còn khả năng phục hồi hay không và phần nguồn lực còn lại được sử dụng thế nào.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã nghiên cứu sâu vấn đề này. Các báo cáo của OECD về năng suất và cơ chế phá sản cho thấy, khi thủ tục xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (tức là không trả được các khoản nợ đến hạn) kéo dài, vốn và tài sản bị giữ lại trong những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. OECD gọi đó là doanh nghiệp “xác sống”: nhiều năm liền làm ra không đủ trả lãi vay, chỉ tồn tại được nhờ vay mới để trả nợ cũ. Những doanh nghiệp này vẫn chiếm giữ đất đai, nhà xưởng, vốn vay ngân hàng, trong khi chủ nợ khó thu hồi tiền và doanh nghiệp làm ăn tốt hơn lại khó tiếp cận nguồn lực để mở rộng sản xuất.

Ở đầu vào của thị trường, nghiên cứu The Regulation of Entry (Quy định về gia nhập thị trường) của Simeon Djankov và các cộng sự, đăng trên tạp chí Quarterly Journal of Economics năm 2002, khảo sát 85 quốc gia. Kết quả cho thấy những nước có thủ tục thành lập doanh nghiệp phức tạp hơn thường có khu vực kinh tế phi chính thức lớn hơn, tức là có nhiều cơ sở làm ăn không đăng ký, nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước, đồng thời mức độ tham nhũng cũng cao hơn. Lý do dễ hiểu: thủ tục càng rườm rà, càng nhiều người chọn kinh doanh “chui” thay vì đăng ký, và mỗi khâu xin phép lại thêm một cơ hội để nhũng nhiễu. Trong khi đó, thủ tục khắt khe hơn không làm cho hàng hóa, dịch vụ ở các nước này tốt hơn.

Hai hướng nghiên cứu cùng đi đến một kết luận: môi trường kinh doanh phải được đánh giá trong suốt vòng đời doanh nghiệp, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc hoạt động. Ngân hàng Thế giới đã áp dụng cách nhìn này trong chương trình Business Ready (B-READY), bộ công cụ đánh giá môi trường kinh doanh các nước thay cho bảng xếp hạng Doing Business trước đây. B-READY chấm điểm cả khâu thành lập doanh nghiệp lẫn khâu xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, xem xét đồng thời chất lượng quy định, dịch vụ công và hiệu quả thực thi trên thực tế.

Thành lập vài ngày, giải thể vài năm

Việt Nam đã đơn giản hóa đáng kể thủ tục thành lập doanh nghiệp, nhưng khâu rút lui vẫn chậm. Theo Cục Thống kê, năm 2025 cả nước có 76.900 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, gấp hơn hai lần số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm (35.900 doanh nghiệp). Nhiều doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh từ lâu mà vẫn chưa thể chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý; nói nôm na là đã chết mà chưa chôn được. Doanh nghiệp không còn bán hàng, không còn lao động, không phát sinh doanh thu nhưng vẫn nằm trên hệ thống đăng ký và quản lý thuế, còn người từng đứng tên phải tiếp tục giải quyết những hồ sơ, nghĩa vụ phát sinh từ nhiều năm trước.

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng số doanh nghiệp đang hoạt động chiếm khoảng 63,3%. 

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng số doanh nghiệp đang hoạt động chiếm khoảng 63,3%. 

Khâu vướng nhiều nhất thường nằm ở thuế. Muốn giải thể, doanh nghiệp phải quyết toán thuế cho toàn bộ thời gian hoạt động và được cơ quan thuế xác nhận không còn nghĩa vụ nào, sau đó mới được chấm dứt hiệu lực mã số thuế, con số định danh của doanh nghiệp trong hệ thống quản lý thuế. Chỉ cần một khoản phạt chậm nộp từ nhiều năm trước chưa xử lý, hay số liệu giữa các cơ quan không khớp nhau, hồ sơ có thể dừng lại rất lâu. Trong khi đó, thành lập doanh nghiệp hiện có thể làm trực tuyến và nhận kết quả sau vài ngày.

Năm 2026 đã có chuyển biến. Trong 9 tháng, cả nước có hơn 48.700 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 118,8% so với cùng kỳ, trong khi số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể giảm 37%. Khung pháp lý cũng thay đổi theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân: Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, ưu tiên phục hồi doanh nghiệp còn khả năng hoạt động và bổ sung thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn, ít khâu và nhanh hơn, dành cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Cần lưu ý giải thể và phá sản là hai con đường khác nhau: giải thể là khi doanh nghiệp tự quyết định đóng cửa và trả được hết nợ; phá sản là khi doanh nghiệp không trả được nợ và Tòa án phải đứng ra giải quyết, phân chia tài sản còn lại cho các chủ nợ.

Tất nhiên, ngừng kinh doanh không có nghĩa là được miễn trách nhiệm. Những khoản nợ hợp pháp với Nhà nước, người lao động, đối tác và chủ nợ phải được xử lý theo quy định; hành vi gian lận, trốn tránh nghĩa vụ phải bị xử lý nghiêm. Nhưng doanh nghiệp cố tình vi phạm khác với doanh nghiệp kinh doanh thất bại và muốn hoàn thành nghĩa vụ để chấm dứt hoạt động. Nếu hồ sơ kéo dài vì dữ liệu chưa thống nhất, thủ tục trùng lặp hoặc các cơ quan nhà nước thiếu phối hợp, cần xác định rõ trách nhiệm giải quyết.

Cũng phải tách bạch ba trạng thái. Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là doanh nghiệp đăng ký nghỉ một thời gian, giống một cửa hàng treo biển tạm đóng cửa, và có thể quay lại hoạt động. Doanh nghiệp ngừng hoạt động trên thực tế là doanh nghiệp không còn làm ăn nhưng chưa làm xong thủ tục đóng cửa. Doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục pháp lý là doanh nghiệp đã được xóa tên khỏi hệ thống đăng ký. Theo Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính), khoảng 60% doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 6 tháng đầu năm 2026 chọn hình thức tạm ngừng kinh doanh có thời hạn để tái cơ cấu, tìm cơ hội quay lại. Gộp chung các nhóm này thì số liệu rút lui sẽ thiếu chính xác và chính sách hỗ trợ khó đến đúng đối tượng.

Bức tranh ở Cao Bằng

Với Cao Bằng, việc cải thiện môi trường kinh doanh cần được coi là nhiệm vụ trực tiếp phục vụ tăng trưởng. Tỉnh có thị trường nhỏ, địa hình chia cắt, chi phí vận chuyển cao, phần lớn doanh nghiệp quy mô nhỏ và khả năng tích lũy hạn chế. Những bất lợi về địa lý khó khắc phục trong thời gian ngắn, còn chi phí thủ tục hành chính và chất lượng phục vụ của chính quyền thì có thể cải thiện ngay.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa phát biểu tại buổi làm việc với Công ty cổ phần Tập đoàn TH về Dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa phát biểu tại buổi làm việc với Công ty cổ phần Tập đoàn TH về Dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, đến giữa năm 2026, toàn tỉnh có 2.440 doanh nghiệp đã được cấp đăng ký, nhưng chỉ 1.544 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm khoảng 63,3%; cứ 10 doanh nghiệp từng đăng ký thì chỉ khoảng 6 doanh nghiệp còn đang làm ăn. Gần 900 doanh nghiệp còn lại gồm cả doanh nghiệp tạm ngừng, chờ giải thể và đã giải thể; muốn chính sách trúng, phải biết mỗi nhóm có bao nhiêu doanh nghiệp và vướng ở khâu nào. Ở chiều gia nhập, 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh có 122 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 48% so với cùng kỳ, với vốn đăng ký bình quân khoảng 3,3 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp, chưa bằng một phần ba mức bình quân cả nước cùng kỳ (khoảng 12 tỷ đồng).

Quy mô vốn nhỏ như vậy cho thấy nhóm doanh nghiệp đang tìm cách lớn lên cần được quan tâm không kém nhóm mới thành lập. Một doanh nghiệp nhỏ ở Cao Bằng muốn mở rộng thường vướng ở tiếp cận đất đai, tín dụng và thị trường tiêu thụ; một hộ kinh doanh muốn chuyển lên doanh nghiệp thường ngại chi phí tuân thủ, kế toán, thuế. Tháo được những vướng mắc này, tỉnh tăng được số doanh nghiệp đang hoạt động bền vững thay vì chỉ tăng số đăng ký mới.

Bắt đầu từ những việc tỉnh làm được

Muốn làm được, trước hết cần một cuộc rà soát thực chất. Trong những năm qua, bao nhiêu doanh nghiệp, hộ kinh doanh được thành lập và bao nhiêu còn hoạt động sau ba năm, năm năm? Vì sao có doanh nghiệp không lớn lên được? Bao nhiêu trường hợp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hiệu lực mã số thuế? Hồ sơ nào kéo dài ba năm, năm năm, thậm chí lâu hơn, đang vướng ở đâu và thuộc trách nhiệm của cơ quan nào? Những câu hỏi này phải được trả lời bằng số liệu và hồ sơ cụ thể.

Tiếp đó, cần rà soát toàn bộ quá trình gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Một doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày để bắt đầu kinh doanh thực tế, tính cả các thủ tục sau đăng ký? Khi muốn chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp phải đi qua những cơ quan nào, mất bao lâu, tốn những chi phí gì? Nếu quy định cho phép giải quyết trong một thời hạn nhất định mà thực tế kéo dài hơn, phải tìm ra nguyên nhân. Nếu doanh nghiệp phải nộp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu nhà nước, cần liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan.

Đồng thời, phải giải quyết dứt điểm hồ sơ tồn đọng, trước hết là những trường hợp đủ điều kiện nhưng chưa được xử lý. Hồ sơ còn nợ thuế, tranh chấp hoặc nghĩa vụ chưa hoàn thành cần được phân loại và hướng dẫn rõ ràng. Việc thuộc thẩm quyền địa phương thì giải quyết ngay; bất cập do quy định của Trung ương thì kiến nghị sửa đổi. Mỗi nhóm vướng mắc phải có cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành, để người dân và doanh nghiệp không phải tự đi lại giữa các cơ quan tìm câu trả lời.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh tặng hoa cộng đồng doanh nghiệp tỉnh nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh tặng hoa cộng đồng doanh nghiệp tỉnh nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10.

Cuối cùng, cần thay đổi cách đánh giá môi trường kinh doanh. Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới, tỉnh nên theo dõi tỷ lệ doanh nghiệp tồn tại sau ba năm, năm năm, mức tăng quy mô, năng suất, khả năng tái cấu trúc và thời gian hoàn tất thủ tục rút lui. Hướng tiếp cận này phù hợp với cách Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) điều chỉnh Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), bộ chỉ số được xây dựng từ khảo sát doanh nghiệp hằng năm để chấm điểm chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền từng tỉnh. Từ kỳ công bố PCI 2025, VCCI không còn xếp hạng từ 1 đến 34 mà chia các địa phương thành 6 nhóm chất lượng điều hành, đồng thời lần đầu công bố Chỉ số hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI). Nếu PCI cho biết chính quyền điều hành tốt đến đâu, thì BPI cho biết doanh nghiệp tư nhân ở địa phương thực sự làm ăn ra sao.

Khi bàn về tăng trưởng hai con số, chúng ta thường nghĩ đến dự án lớn, vốn đầu tư mới và năng lực sản xuất bổ sung. Tăng trưởng còn đến từ việc sử dụng tốt hơn nguồn lực đang có: một doanh nghiệp nhỏ giảm được chi phí, mở rộng được thị trường, nâng được năng suất cũng góp phần vào kết quả chung. Cao Bằng khó cạnh tranh với các trung tâm kinh tế lớn về quy mô thị trường hay vị trí địa lý, nhưng hoàn toàn có thể trở thành nơi doanh nghiệp được hướng dẫn rõ ràng, thủ tục được giải quyết đúng hạn, khó khăn chính đáng được tháo gỡ và mỗi vướng mắc đều có người chịu trách nhiệm.

Một nền kinh tế năng động cần có chỗ cho người bắt đầu, cơ hội cho người muốn lớn lên, đường phục hồi cho người gặp khó khăn và lối ra rõ ràng cho người cần dừng lại. Khi được bảo đảm những điều kiện đó, doanh nghiệp sẽ yên tâm bỏ vốn, đổi mới và gắn bó lâu dài với địa phương, tạo nền tảng để kinh tế tư nhân phát triển và tăng trưởng của tỉnh bền vững hơn.

Lê Hải Hòa, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/doanh-nghiep-can-mot-loi-vao-thuan-loi-va-mot-loi-ra-thong-thoang-3193379.html