Doanh nghiệp chăn nuôi mắc kẹt giữa bài toán con giống, dòng vốn và chính sách
Thiếu con giống chất lượng, chu kỳ đầu tư kéo dài, cạnh tranh thiếu bình đẳng và những tiêu chí công nhận doanh nghiệp công nghệ cao còn bất cập đang tạo thành nhiều nút thắt, cản trở doanh nghiệp chăn nuôi gia súc lớn mở rộng sản xuất và đầu tư bài bản.
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y Việt Nam, tổng đàn trâu năm 2025 đã giảm xuống còn 1,952 triệu con (năm 2024 là hơn 2 triệu con), đàn bò giảm xuống còn 6,137 triệu con (năm 2024 là 6,212 triệu con và bò sữa đạt 321,8 nghìn con.
Khó từ con giống đến thị trường
Việc giảm số lượng đàn được các chuyên gia chỉ ra là do ngành đang tập trung vào nâng cao năng suất. Tuy nhiên, đằng sau những con số đó cũng cho thấy những điểm nghẽn mang tính hệ thống, phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp.
Nhìn nhận từ thực tiễn thị trường, bà Tô Tuệ Lang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Bò Sữa Châu Á – Thái Bình Dương, chỉ ra rằng ngành bò thịt đang chạm ngưỡng báo động khi thiếu đồng thời cả con giống, bò cái nền lẫn bò mổ thịt; dòng tiền đầu tư bị bủa vây bởi nghịch lý con giống kém chất lượng. Phần lớn đàn bò nền hiện nay là sản phẩm lai tạp, không kiểm soát di truyền và hiếm khi ứng dụng tinh hay phôi cao sản, khiến bê con sinh ra tăng trọng rất chậm.
Chính chất lượng giống thấp rất dễ đẩy mảng chăn nuôi sinh sản của doanh nghiệp vào cảnh thua lỗ khi giá bán bê con chỉ dao động từ 12–18 triệu đồng/con, không đủ bù đắp chi phí nuôi dưỡng bò mẹ.

Từ nguồn giống, công nghệ, thị trường... đều là những điểm cần tháo gỡ để doanh nghiệp chăn nuôi gia súc yên tâm đầu tư.
Ngoài ra, bài toán chu kỳ vốn dài trở thành "vòng kim cô" siết chặt dòng tiền của doanh nghiệp. Theo bà Tô Tuệ Lang, một con bò cái cần tới 15–18 tháng mới sinh dòng tiền, khiến vốn bị "giam" lâu hơn gấp 3 đến 4 lần so với hình thức vỗ béo ngắn hạn (3–6 tháng). Dù vỗ béo ngắn hạn giúp quay vòng vốn nhanh hơn nhờ tận dụng phụ phẩm, người chăn nuôi theo hình thức này vẫn đối mặt rủi ro lớn do thị trường thanh toán thuần túy theo trọng lượng hơi, phụ thuộc hoàn toàn vào biến động giá và sự ép giá của thương lái.
Ông Hà Văn Liễu, Giám đốc khối chăn nuôi bò Thaco Agri, nhấn mạnh rằng chu kỳ nuôi đại gia súc rất dài, khiến những sai lệch nhỏ ban đầu về kỹ thuật hay quản trị nếu kéo dài liên tục sẽ đủ sức cuốn trôi toàn bộ lợi nhuận của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc vận hành các trang trại công nghệ cao còn đòi hỏi một biên độ quản trị khắt khe. Công tác quản lý dữ liệu phả hệ đòi hỏi sự tỉ mỉ tuyệt đối từ ngày phối đến nguồn tinh; chỉ một nhầm lẫn nhỏ giữa bê giống và bê thịt có thể khiến toàn bộ giá trị thương hiệu mất trắng. Việc phân chia khẩu phần dinh dưỡng phức tạp cho bò mang thai, bò thịt hay bài toán ứng dụng 100% công nghệ thụ tinh nhân tạo và cấy truyền phôi đòi hỏi nguồn nhân lực thú y túc trực liên tục.
Đồng thời, sự đứt gãy trong kiểm soát thị trường đang đẩy các nhà đầu tư bài bản vào thế khó. Ông Hà Văn Liễu cho biết dù nguồn cung trong nước khan hiếm, chuỗi cung ứng chính thức vẫn phải đương đầu với áp lực cạnh tranh gay gắt từ lượng lớn bò tiểu ngạch qua biên giới hoàn toàn không bảo đảm nguồn gốc, kiểm dịch hay hồ sơ giống. Sự thiếu hụt hệ thống phân loại chất lượng thịt xẻ, thiếu lò mổ đạt chuẩn an toàn thực phẩm cùng sự liên kết lỏng lẻo giữa nhà máy chế biến và người nuôi càng làm suy yếu sức đề kháng của chuỗi giá trị chính thống.
Nguồn lực đất đai và rào cản chính sách cũng là những nút thắt nhức nhối khác. Theo ông Hà Văn Thắng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP T159 Hòa Bình, năng lực quản trị hạn chế của một số nhà đầu tư đã dẫn đến tình trạng bỏ hoang diện tích đất được giao hoặc thuê, làm phát sinh hàng loạt xung đột pháp lý phức tạp tại địa phương, khiến ngành chăn nuôi gia súc chưa thực sự phát triển bền vững.
Khơi thông chuỗi giá trị
Để giải quyết triệt để những điểm nghẽn đang kìm hãm ngành chăn nuôi gia súc, các cơ quan quản lý và chuyên gia cho rằng cần có sự đột phá toàn diện từ cơ chế vĩ mô đến quản trị thực tiễn tại doanh nghiệp.
ThS. Hồ Mộng Hải, Phó Chi cục Trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y vùng Miền Nam, kiến nghị cơ quan quản lý cần sớm chuyển đổi tư duy chỉ đạo từ việc áp đặt chỉ tiêu "tổng đàn" sang quản lý theo "hiệu quả đàn", gắn liền với các chỉ số thực chất như sản lượng trên con mẹ, chi phí trên mỗi kg sản phẩm và mức độ tối ưu tài nguyên.
Ở góc độ thị trường, ông Hà Văn Liễu đưa ra quan điểm rằng cạnh tranh công bằng không có nghĩa là mọi sản phẩm phải được bán cùng một mức giá trên thị trường, mà cốt lõi là sản phẩm phải được nhận diện, kiểm chứng và định giá chính xác theo đúng nguồn gốc xuất xứ, quy trình nuôi trồng, chất lượng thực tế và mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm. Việc minh bạch hóa thông tin, xây dựng hệ thống phân loại thịt xẻ chuẩn hóa và thắt chặt liên kết giữa nhà máy chế biến với người chăn nuôi sẽ tạo dựng môi trường kinh doanh sòng phẳng cho các đơn vị làm ăn nghiêm túc.
Để đảm bảo dòng tiền, các chuyên gia cho rằng các đơn vị mới bước chân vào mảng kết hợp nhân giống và sinh sản cần chiến lược phân bổ nguồn lực thận trọng: dành 70% quy mô cho mảng thương phẩm và 30% cho nhân giống trong 1–2 năm đầu để ổn định dòng tiền và làm chủ kỹ thuật, trước khi nâng tỷ lệ nhân giống lên 50–70% từ năm thứ ba. Đồng thời, doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư thẻ tai nhận diện theo màu hoặc gắn chip điện tử cho từng nhóm vật nuôi để tối ưu hóa công tác quản trị dinh dưỡng và dịch bệnh.
Không chỉ đối mặt với những khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ, doanh nghiệp chăn nuôi còn chịu sức ép từ các rào cản thể chế. Những bất cập trong tiêu chí công nhận doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao đang khiến nhiều đơn vị dù đã đầu tư bài bản vẫn khó tiếp cận các chính sách ưu đãi về vốn, đất đai và hỗ trợ đầu tư, qua đó làm giảm động lực mở rộng quy mô sản xuất.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, nút thắt về thể chế cũng cần được tháo gỡ để tạo lực vững chắc cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Nai, cho biết nút thắt chính sách hiện nay đang tạo ra rào cản hành chính vô cùng phi lý đối với các đơn vị muốn tiếp cận ưu đãi nông nghiệp công nghệ cao nói chung và trong chăn nuôi nói riêng. Bà Tuyết cho biết, quy định pháp lý hiện hành đưa ra tiêu chí bắt buộc doanh nghiệp phải "tự nghiên cứu ra những công nghệ mới" thì mới được xem xét công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. Đây là điều kiện vượt quá khả năng thực tế của đại đa số doanh nghiệp sản xuất.
Tại tỉnh Đồng Nai, hiện có tới 352 doanh nghiệp hoàn toàn đáp ứng đầy đủ tất cả các tiêu chuẩn khắt khe khác về quy mô, hạ tầng, môi trường và an toàn sinh học… nhưng chỉ vì vướng duy nhất tiêu chí tự nghiên cứu công nghệ mới này nên không thể được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao. Sự đứt gãy này gây cản trở rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận chính sách ưu đãi vốn, đất đai và triển khai liên kết với các HTX.
Do đó, giải quyết trọn vẹn các bài toán từ con giống, chuỗi cung ứng, minh bạch thị trường cho đến việc cởi trói các tiêu chí công nhận công nghệ cao chính là những "mắt xích" chiến lược. Chỉ khi các điểm nghẽn này được tháo gỡ đồng bộ, dòng vốn đầu tư dài hạn mới thực sự yên tâm đổ bộ, tạo nền tảng vững chắc cho doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất.
